Văn Thơ VB
Dư Âm Của Một Cái Tết
Truyện ngắn của Thành Văn k20
Năm ấy, đã xa lắm. Bao nhiêu niềm vui, bao nhiêu nỗi buồn, đã đến đã qua đi. Có những chuyện qua đi, một lần rồi thôi. Tuổi đời chồng chất. Dĩ vãng như những bức tranh vẽ bằng mực, nét vẽ cũng nhạt nhoà với thời gian. Nhưng có những chuyện không như thế. Nó như những bức tranh vẽ bằng sơn trên vải. Thậm chí, có chuyện như thể đưọc khắc hoạ bằng dao trên nền đá lạnh lẽo phẳng phiu ký ức. Bụi thời gian vẫn đều đều phủ lên từng lớp, từng lớp mỗi năm. Rồi chỉ một tình cờ nào đó, có khi chỉ như một cơn gió thoảng, cũng đủ cuốn lớp bụi bay đi, để lộ ra một bức tranh còn tươi nguyên nét vẽ. Còn nổi bật những đường chạm trổ.
Năm ấy, cuộc chiến đã đến hồi khốc liệt. Thanh niên hai bên lằn ranh chiến tuyến bị đẩy ra mặt trận để gục xuống hàng ngày. Thật là một chuyện cổ tích buồn. Buồn như cội nguồn của một dân tộc, một giống nòi. Cha mẹ bỏ nhau, chia con, mỗi người giắt theo một nửa, quay lưng đi về một hướng.
Năm ấy, tôi còn rất trẻ. Mới khởi đầu lớp tuổi hai mươi. Cũng tuân theo một tiếng gọi, tôi hăng hái lên đường, lăn xả vào cuộc chiến. Tôi ngẩng cao đầu, tôi ưỡn căng lồng ngực. Điên dại trong một nỗi tự hào không tên gọi. Chúng tôi vào cuộc chơi, hào hứng, như những ngày thơ dại lấy que làm gươm làm súng chơi trò đánh nhau. Từ một lý tưởng có thật; đánh đuổi ngoại xâm, đến những lý tưởng nguỵ tạo. Những người trẻ tuổi chúng tôi phải vác trên lưng những món hàngï giả mạo. Tuổi trẻ bập bềnh trôi giạt trên lớp sóng thời đại đang phân hoá từ từ.
Năm ấy, tôi vừa rời quân trường được một năm. Vùng đất chúng tôi được quẳng vào đó như một đám cháy đang tạm thời dịu bớt. Quân đồng minh đổ vào. Cuối sáu sáu, sang đầu năm sáu bẩy. Tình hình chiến sự, như một sợi dây đàn đang căng hết cỡ đột nhiên chùng lại. Hàng đoàn xe GMC chở lính đồng minh đi lại rầm rập. Xe tăng nghiến bánh xích trên đường, chuyền đi những xung động khiến những túp lều tranh hai bên đường run rẩy.
Những lần dừng quân để nhận thêm tiếp tế ở một thôn làng xơ xác nghèo, tơi tả vì chiến tranh nghe tin về một thằng bạn cùng khóa vừa nằm xuống, bỏ dở cuộc chơi. Chỉ chưa tròn một năm. Hai mươi hai đứa được đưa về Sư-đoàn chỉ còn lại mười sáu. Trung bình cứ hai tháng lại một đứa bạn ra đi không lời chào giã biệt. Những Huy, Hiển, Khoát, Liễu…Chiến tranh vẫn như một lời nguyền của cả một dân tộc bị diệt vong. Lời nguyền lẩn khuất trong từng ngọn cỏ, lá cây, từng hòn đá, mỗi giòng sông. Lời nguyền thoảng trong gió, quyện trong mây. Hiện ra thành bom đạn, thành lửa thù, thành tiếng khóc than. Cả một dân tộc bị đoạ đày, vô phương vùng thoát.
Hàng ngày tôi cùng những người lính lang thang đi tìm sự sống qua những bước chân đạp lên nỗi chết. Đêm đêm nằm rình rập, để rồi bất ngờ đổ ập xuống tan tành tức tưởi. Để lại sau lưng một người cha trán hằn lên những nỗi lo âu nhọc nhằn qua năm tháng. Một người mẹ mắt ráo hoảnh, khóc không còn nước mắt. Một người yêu chưa dám trọn vòng ôm. Tuổi thơ không có, tuổi trẻ là những ngày tháng nhọc nhằn tơi tả. Lý tưởng thì lúc xa lúc gần. Trước mặt chỉ nhìn thấy căm thù và chán ghét. Tai chỉ nghe những lời lừa mị, những danh từ rỗng tuếch.
Tết năm đó, đơn vị tôi đóng quân gần Sông Cầu, tỉnh Phú-yên. Đối phương tạm lui một bước nghe ngóng tình hình, tìm phương đối phó. Chúng tôi được hưởng những ngày tương đối êm ả. Không tiếng súng. Những ngày giáp Tết, tôi có dịp lấy xe vọt xuống thị trấn Sông Cầu để nhìn thiên hạ ăn Tết. Ở đó, không hiểu do một tình cờ nào tôi không còn nhớ rõ, tôi gặp bà mẹ của Liễu, thằng bạn cùng khoá với tôi. Ra trường hai mươi hai đứa được phân về Sư-đoàn cũng mang con số 22. Một sự ngẫu nhiên hơi lạ. Tụi tôi vin vào đó bảo nhau. Hy vọng may mắn. Chúng tôi cùng nhau nguỵ tạo ra một lý do để tin tưởng vào một vận may. Một đứa nào đó nói: "22 là bốn nút, cộng thêm 22 nữa là tám nút. Sát chín nút là hên rồi, phải không, tụi bay?" Chúng tôi đi vào cuộc chiến như ngồi vào canh bạc.
Nhưng chỉ sáu tháng sau, bốn đứa đã lần lượt ra đi. Liễu là một trong những thằøng ra đi sớm nhất. Cái thằng bạn tên như con gái ấy, cứ tưởng nó sẽ ẻo lả xin về một văn phòng, một ban tham mưu nào đó, để ngồi nghe thiên hạ chọc ghẹo vì cái tên ông bà già nó đặt nhầm thành tên con gái. Nhưng không, nó là đứa đánh giặc hăng nhất tiểu-đoàn, một chuyên viên "húc".
Liễu là con trai độc nhất phân cách hai bà chị với hai đứa em gái. Liễu đẹp trai, nên, đám phụ nữ trong nhà nó phần lớn cũng xinh xắn có duyên. Mẹ Liễu bà cũng trạc tuổi mẹ tôi. Khi biết tôi cùng khoá với con trai bà, mẹ Liễu cứ nói dăm câu lại đưa tay dặm nước mắt. Chỉ vài ba lần gặp, ngẫu nhiên tôi đã trở thành con cái trong nhà. Mặc cho tôi ngại ngùng giữ kẽ. Bà bảo :- Mấy ngày này các con không hành quân. Hàng ngày phải ghé qua đây ăn Tết với gia đình cô. Đừng đi đâu hết. Có tụi bay tới, nhà cửa ấùm cúng vui vẻ cho cô mừng.
Hai bà chị của Liễu, chị hai đã có chồng, ngày nào chị cũng ẵm con ghé qua nhà. Chị ba, chắc hơn tôi vài tuổi. Thay mẹ đứng làm đầu tầu trong việc bươn chải, kiếm ăn cho gia đình. Chị có thân hình hơi cao lớn so với phụ nữ. Mặt chị đầy những mụn cám. Có lẽ chị cũng hơi có mặc cảm về nhan sắc. Tôi ít thấy chị cười. Thỉnh thoảng chị cứ nhìn tôi chăm bẳm. Hỏi :
- Hồi còn trong trường em có thân với thằng Liễu không?
Tôi bảo có chứ chị. Nhìn tôi một chặp chị lại lau nước mắt. Hai người đàn bà mau nước mắt khiến tôi cảm thấy như mình có lỗi. Như thể sự hiện diện của tôi chẳng làm ai vui. Mà chỉ gợi lên nỗi buồn. Tôi đã tính sẽ không đến nhà mẹ Liễu thường nữa. Tôi không muốn khơi dậy nơi những người phụ nữ thân yêu nhất của Liễu sự mủi lòng.
Cho đến mùng hai Tết thì mọi sự bỗng khác. Đó là sự xuất hiện của một khuôn mặt con gái. Cô bé suýt làm rơi trái mận đang cắn khi tôi bất ngờ hiện ra ở cửa bếp. Tôi cũng không biết lúc ấy tôi định xuống bếp làm gì. Có lẽ vì tôi chợt nghe tiếng Hằng, em gái út của Liễu đang nói chuyện với một phụ nữ giọng nghe lạ.
Hằng thì tôi biết rồi. Tôi cũng biết Liễu có đến hai đứa em gái. Nhưng một ở trọ nhà người chú ở Tuy-hoà vừa để đi học, vừa để phụ trông cửa hàng tạp hoá của chú thím. Hằng nhỏ nhất nhà, năm đó cô bé mơí mười lăm. Cô bé nhí nhảnh, hồn nhiên. Thỉnh thoảng lại gọi lầm tên tôi thành ra "anh Liễu". Tôi mến vẻ tự nhiên của cô bé. Và vì không có em gái, nên tôi thích nói chuyện với cô bé. Tôi nhìn Hằng, rồi nhìn cô gái lạ. Tôi mỉm cười. Cô gái sau giây phút hoảng hốt vì sự xuất hiện bất ngờ của tôi, đã lấy lại được bình tĩnh. Cô nàng dấu hai tay cầm mận ra sau lưng, cười bầy ra cái răng khểnh. Tôi ngớ người ra ngay trước nụ cười và chiếc răng khểnh đó. Nhưng tôi kịp trấn tĩnh lại liền. Lính, không thể bị choáng váng dễ dàng như thế được. Tôi hỏi Hằng :- A, em dấu ai dươí bếp thế này? Hai cô đang âm mưu gì đây?
Có lẽ câu hỏi của tôi hơi sỗ sàng, và nhiều chất lính quá, khiến nụ cười trên môi cô gái chợt tắt. Hằng quay lại thấy tôi, cô bé nói : - May quá! Có anh Thạch đây rồi. Để em giới thiệu. Mà thôi, khoan đã, em đố anh biết ai đây? Đoán trúng, em miễn cho khỏi phải lì-xì em năm mới. Đoán sai, hễ anh lì xì em bao nhiêu phải lì-xì chị ấy bấy nhiêu. Chịu không?
Tôi nghĩ ngay đến Dung, người em gái kế Liễu. Nhưng hôm trước mẹ Liễu nói Dung chỉ về thăm nhà sau ba ngày Tết. Tôi cũng không hỏi tại sao. Chuyện gì cũng có lý do của nó. Tôi không hỏi, vì tôi chẳng biết Dung là người như thế nào. Với tôi, Dung cũng như Hằng thôi. Tôi nói :
- Anh xin lỗi hai cô. Anh ăn nói vô duyên quá, hả? Đúng là lính tráng, chẳng biết lịch sự gì hết. Nhưng mà, đầu năm đã bắt anh làm thầy bói rồi. Chịu thôi. Đoán sai, xui cả năm.
Hằng vui vẻ dục : - Anh Thạch đoán đại đi. Em bảo đảm trúng mà.
Nói xong, cô bé nháy mắt. Tôi hiểu ra ngay cái nháy mắt của Hằng. Phải rồi, chỉ có Dung. Dù gì tôi cũng đã nghe tên. Một người lạ hoắc, cái nháy mắt của Hằng sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả. Tôi nói ngay :
- Dung. Phải không?
Dung mỉm cười khẽ gật. Hằng reo lên : - Đó, em nói rồi. Thấy không? Ông thầy bói sáng này đoán hay ghê. Vậy là em miễõn cho anh khỏi phải lì-xì em.
Tôi nói : - Hôm trước, má em nói với anh khoảng mùng bốn mùng năm cô mới về mà.
Dung hơi có vẻ e lệ. Giọng nàng nhỏ và nhẹ :
- Năm nay em về sớm.
- Thế là Tết này anh hên nhất. Bởi sau Tết, biết đâu lúc cô về, anh đã đi hành quân mất tiêu rồi. Đâu có gặp được cô. Phải vậy không?
Hằng đùa : - Chị Dung biết có anh ghé, nên trốn về đó.
Dung hơi ngượng, đập vào cánh tay Hằng : - Con nhỏ này vô duyên.
Tôi bảo :- Sao cô không ở lại Tuy-hoà ăn Tết đã. Có vui hơn không ? Bên đó dù sao cũng là Thị-xã. Phải vui hơn nhà quê chứ.
Vẻ mặt Dung hơi xụ xuống :
- Về nhà mình em thấy thích hơn. Hơn nữa mấy ngày tết nhà chú thím em còn bận hơn ngày thường. Em chẳng đi đâu ra ngoài, nên vui hay không em đâu biết.
Tôi chuyển đề tài :
- Tết các cô có chương trình gì hấp dẫn không? Cho anh ké với.
Hai cô chưa trả lời câu hỏi của tôi thì Dung chợt hỏi :
- Anh Thạch dân Bắc kỳ hả ?
Tôi nhìn Dung với ánh mắt châm chọc : - Ờ, sao? Bắc kỳ ăn cá rô cây. Con tâu tắng cột bụi te. Các cô nghe thế bao giờ chưa? Mà Bắc kỳ thì sao? Dân Bắc-kỳ khó thương lắm, phải không?
Dung vội chối :
- Không, đâu có. Tại lớp em có mấy con bạn cũng Bắc-kỳ. Tụi nó học giỏi lắm. Em thích nghe tụi nó nói chuyện. Giọng Bắc nói nghe hay ghê.
Tôi bảo : - Vậy là cô nhầm to rồi. Chưa nghe mấy bà Bắc kỳ vừa ca vừa biểu diễn vũ điệu mất gà đâu. Khiếp lắm! Cô mà nghe một lần mười năm sau nghĩ lại vẫn còn run.
Cả hai cùng cười. Hằng hỏi : - Đàn ông Bắc kỳ có biết múa vũ điệu mất gà không, hả anh? Bữa nào anh chỉ tụi em đi!
- Chịu thua. Đó là độc chiêu của mấy bà già. Còn trẻ như các cô không nên học. Vả lại, anh cũng chỉ nghe. Chưa có hân hạnh chứng kiến tận mắt bao giờ. Nên chịu.
Câu chuyện giữa tôi và hai cô gái em của Liễu kéo dài qua đủ các thứ chuyện. Có lẽ khi vắng mặt tôi, cả nhà trong câu chuyện vẫn thường nhắc về tôi, nên Dung nhanh chóng trở nên tự nhiên khi nói chuyện. Cũng có thể nhà toàn đàn bà con gái, nên sự xuất hiện của tôi bỗng chốc trở thành cái "đinh". Và, nhất là tôi là bạn cùng khoá của Liễu. Tôi với nó khá thân. Giờ đây nó không còn. Mẹ Liễu bà muốn có tôi trong những ngày Tết để thay thế hình bóng nó. Mà có lẽ không phải chỉ riêng tôi. Tất cả những đứa bạn cùng khoá của tôi, đứa nào ghé qua cũng được bà thương quý, vồn vã như vậy. Tội nghiệp. Tôi hiểu nỗi lòng của một người mẹ. Vả, tôi cũng nhân cơ hội chiến trường yên tĩnh lúc đó để tạm quên đi những hiểm nguy nhọc nhằn thường xuyên trong đời lính.
Hai cô gái thích nghe tôi kể chuyệïn đánh nhau. Tôi thì chán ngấy những câu chuyện chán ngắt nhạt nhẽo của các cuộc hành quân ngày nào cũng như ngày nấy. Nhưng chiều các cô, tôi vẫn phải say sưa kể. Chiến tranh là một cái gì quá nhàm chán đối với một người lính. Nhưng các cô gái thì lại bị kích thích bởi những trận đánh nhau. Hình như chỉ qua đó các cô mới hình thấy hình dáng những anh lính chiến ăn khớp với những gì họ nghe qua những bản nhạc. Họ tưởng tượng ra những cuộc tình "anh tiền tuyến, em hậu phương". Những câu thơ như "Áo chàng đỏ tựa ráng pha.
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in".
Ít nhiều thêm thi vị cho hình ảnh những người lính thời hiện đại. Đêm nằm gối đầu lên nón sắt, nhìn trời sao mông mênh. Mỗi khi dừng bước quân hành, lấy ba-lô thay bàn viết thư tình cho em. Còn em gái hậu phương lúc nào cũng mơ mộng nghĩ đến anh. Những lá thư tình ướp nước hoa, kèm theo chiếc khăn tay thêu. Thứ tình yêu lãng mạn kiểu cổ điển sặc mùi cải lương lại có vẻ đặc biệt hữu dụng để người ta biến thực tại thành mộng.
Dung hơn Hằng chỉ ba tuổi, nhưng Dung có vẻ trưởng thành hơn Hằng hẳn. Ở Dung mọi cái như đang sửa soạn tròn đầy. Nét thanh tân ẩn dấu sau chiếc áo bà ba bằng vải phin. Vẻ tư lự vừa phải. Chiếc răng khểnh tạo nét duyên dáng đặc biệt mỗi khi cô bé cười. Có thể do sự “thừa nhận” của mẹ, nên Hằng và Dung cũng mặc nhiên xem tôi như anh. Một sự hiểu ngầm giữa các người trong gia đình dành cho tôi một chỗ để thay thế thằng bạn tôi đã chết. Mẹ Liễu, bà không thể nào không nhắc đến con, mỗi khi nói chuyệïn với tôi. Bà bắt tôi kể về Liễu. Từ hồi ở trong quân trường nó học hành ra sao? Tính tình thế nào? Những điều về con làm gì bà chẳng biết. Nhưng bà vẫn muốn nghe tôi kể lại. Tôi kể cho bà nghe tất cả những gì tôi biết về Liễu. Bà ngồi nghe. Có lúc cười, bảo : - Cái thằng, tính nó vậy. Từ hồi còn ở nhà nhiều khi cô cũng rầu vì nó.
Có lúc bà ngồi im, khóc lặng lẽ.
Riêng đối với hai cô gái, tôi nhận được sự trìu mến vốn thiếu vắng với tôi từ bé.
Có khi giữa câu chuyện, bà nhắc đến một đứa bạn cùng khoá của tôi và Liễu. Chẳng hạn : - Hùng mấy hôm trước cũng ghé đây.
Tôi biết. Hùng cũng là một trong hai mươi hai đứa khoá tôi cùng về Sư-đoàn. Nó là Sĩ quan Tham mưu của một Trung-đoàn. Như vậy, trên lý thuyết, nó có nhiều hy vọng sống lâu hơn tôi. Tôi định bụng khi nào gặp được nó, tôi sẽ bảo nó chịu khó ghé thăm mẹ và gia đình, chị em của Liễu.
Tôi sẽ bảo nó : - Mày chẳng cần lùng sục đâu cho xa. Trong hai cô bé tao chắc thế nào mày cũng sẽ chọn được một. Hai cô bé dễ thương ra phết. Được làm em rể thằng Liễu chẳng còn phàn nàn vào đâu được.
Những ngày sau Tết, tình hình vẫn yên tĩnh một cách khác thường. Sau này nhớ lại, tôi cho rằng đó là cái Tết yên hoà nhất trong suốt cuộc đời lính của tôi. Trước sự kiện quân đội đồng minh ào ạt đổ vào, dù muốn dù không đối phương cũng phải tạm ngưng các trận đánh quy mô lớn để điều nghiên tình hình hòng có kế sách đối phó.
Đơn vị tôi vẫn đóng quân tại chỗ để anh em binh sĩ ăn Tết. Tôi thì ngày nào cũng ghé nhà Liễu. Có khi chỉ mươi phút. Mùng bốn Tết, mẹ Liễu làm bữa cơm thật thịnh soạn, bà dặn tôi phải rủ cả những sĩ quan trong đại đội đi cùng. Tôi nói : - Con mà đem hết tụi nó đi, lúc quay về cả đơn vị con bị Việt cộng chỉ huy mất. Bà bảo tiếc nhỉ. Nếu không, bảo tất cả đến đây cho vui.
Hôm đó tôi gặp cả Hùng. Mấy ngày yên tĩnh thế này nó bận hơn tôi. Làm tham mưu, tức một thứ nửa công chức nửa lính. Nó phải làm việc theo lịch, theo ca. Gặp được Hùng tôi vui lắm. Nó kéo tôi ra một góc vườn dừa. Khi chỉ còn hai đứa với nhau. Nó và tôi tha hồ chửng giỡn, chửi thề thoải mái và trêu chọc nhau đủ thứ.
Tôi bảo Hùng : - Mày chịu khó lại thăm má thằng Liễu cho bà bớt hiu quạnh. Tao thấy bà già thật tội.
Hùng bảo : - Bà già nào cũng tội. Nhưng nói chuyện với mấy bà già tao ngán lắm. Nói quanh quẩn một chặp thế nào rồi cũng nước mắt ngắn dài. Trách móc. Mày nghĩ coi. Thế hệ mình. Vả lại tụi mình là lính nghề rồi. Nói thế nào để các cụ hiểu. Cho nên tao ngán gặp các cụ.
Tôi hỏi nó : - Mày thấy mấy đứa em Liễu sao? Mấy nhỏ dễ thương, phải không?
Hùng gật. Tôi bảo nó : - Hằng thì còn nhỏ. Nhưng Dung thì có thể trở thành “đối tượng” được rồi. Mày nhắm được, nhào vô đi. Tao thấy cô bé có vẻ thâm trầm. Týp đó làm vợ là lý tưởng. Thằng Liễu đẹp trai. Mấy con em nó trông cũng có nét lắm.
Hùng văng ra tiếng chửi thề thật hồn nhiên. Nó bảo tôi : - Mẹ sư. Mày chỉ xúi dại ông. Đánh nhau hộc xì dầu ra thế này. Mày lại xúi ông lấy vợ.
Tôi đấm nhẹ vào vai nó :- Thì trước sau gì mà mày không phải lấy. Làm sớm nghỉ sớm. Không hơn à. Đi hành quân có người ở nhà trông ngóng. Khoái thấy mẹ. Còn làm bộ em chả.
Qua cặp kính cận nó nhìn tôi chế riễu : - Ông đi bốt-đờ-sô trong bụng mày. Muốn ăn gắp bỏ cho người. Mày đẹp trai. Ông nhường cho mày đi trước một bước đấy.
Tôi chặn lời Hùng : - Ông xin cám ơn cả nón cái bất...nhã ý của mày!
Nó trầm ngâm một lát, tiếp : - Nói thật, cho đến lúc này tao chưa có "hứng" lấy vợ.
- Bố khỉ. Lấy vợ cũng phải có hứng mới lấy.
- Thật đấy. Có thể một ngày nào đó tự dưng tụi mình cảm thấy thèm có một người phụ nữ can thiệp vào cuộc sống mình. Nhưng bây giờ, vơí tao, thì chưa. Vì chưa cảm thấy cần thiết. Nên tao cũng không đủ mê muội để toan tính lôi bất cứ một người con gái nào vào chịu chung sự khốn nạn của cuộc chiến này. Mày hiểu ý tao không?
- Không. Ông đếch hiểu.
Hai đứa cười xoà bỏ qua đề tài.
Bữa cơm thật vui. Đám phụ nữ đua nhau gắp thức ăn cho hai tên lính chúng tôi. Làm tôi và Hùng đều cảm thấy ngượng ngập vì được săn sóc quá đáng, nên đâm ra cũng e lệ. Bị Hằng chê : - Hai ông lính này ăn yếu quá. Thua cả tụi em.
Dung chêm vào : - Em nghe người ta nói. Nam thực như hổ. Nữ thực như miêu.
Tôi làm mặt tỉnh :
- Đúng phân nửa. Câu đó thế này. Nam thực như hổ. Nữ "xực" như sư tử, chứ.
Mọi người cười to. Hùng cười tuột cả mắt kiếng. Không khí vui vẻ. Không ai bắt hai đứa kể chuyện đánh nhau. Lúc ra ngồi bàn uống nước trà, đột nhiên tôi nghe mẹ Liễu nói : - Trong mấy đứa bạn thằng Liễu, cô thương nhất thằng Thạch. Nó giống thằng Liễu, nhất là hai cái tai. Bất giác tôi nhìn lên tấm hình Liễu trên bàn thờ. Tấm ảnh chụp nó khi còn là Sinh viên sĩ quan. Tấm hình nó chụp hơi nghiêng chỉ thấy rõ một tai. Tai nó hơi nhỏ. Tai tôi cũng vậy. Nếu tôi không giống nó ở những điểm khác, tôi cũng giống nó ở đôi tai. Một đôi tai nhỏ. Tục ngữ người ta nói "Tai to mặt lớn". Những đôi tai nhỏ như của nó hay tôi không thể làm lớn. Không thể làm lớn trong cái đất nước mịt mùng khói lửa này có thể còn hàm ý không sống lâu. Bởi cứ theo lý luận muốn làm lớn, điều kiện cần (tuy có thể chưa đủ), là phải sống lâu cái đã. Tôi không tin mấy ông thầy bói. Nhưng tôi lại tin ở khoa tướng số. Tôi tự biện minh rằng đó là đúc kết của kinh nghiệm qua bao nhiêu thế hệ. Tôi vẫn nghĩ khoa tướng số có một cơ-sở khoa học nào đó. Tôi cũng không hiểu sao mẹ Liễu lại nói ra câu đó. Tôi nghe và lặng người. Tôi có cảm tưởng như bị xúc phạm. Không, không phải sự xúc phạm. Nhưng là một sự vô ý hơi tàn nhẫn. Tuy vậy, tôi không thể giận mẹ Liễu vì câu nói đó. Có thể đó chỉ là một câu nói xuất phát từ tình yêu của người mẹ thương con. Tình yêu đó đã lây sang tôi. Nỗi ám ảnh về cái chết của đứa con trai khiến bà đâm lo sợ về một nỗi mất mát nào đó có liên quan đến con trai bà. Điều đó phải chăng chứng tỏ bà thực sự thương tôi như con trai bà. Tình thương gợi lên một nỗi ám ảnh khôn nguôi nơi bà khiến đột nhiên trong một giây xúc cảm bà buột miệng nói ra. Một câu nói vụng về bà không kiểm soát được. Câu nói có thể làm tôi không vui. Câu nói có thể làm người khác nghe nghĩ rằng đó là một câu nói "gở". Có lẽ bà cũng nhận ra sự vụng về của mình. Nên sau đó bà nói lảng sang chuyện khác. Suốt cả buổi chiều hôm đó nhiều lần tôi bắt gặp ở mẹ Liễu vẻ đăm chiêu phảng phất sự hối hận.
Tết qua đi. Đơn vị tôi lại tiếp tục nhịp hành quân cũ. Tôi cứ giắt đơn vị lang thang từ vùng này sang vùng khác trong các cuộc hành quân mệnh danh là "bình định". Những câu chuyện về Tết ở nhà mẹ Liễu dần dần tôi cũng quên đi, duy chỉ có một điều tôi không quên được. Đó là câu nói của mẹ Liễu. Tôi không cho rằng đó là một câu nói gở. Không phải bất cứ ai cũng có thể thốt ra một câu nói gở. Chẳng qua chỉ sau khi một sự xui xẻo nào đó đã xảy ra, người ta mới cố tìm ra đủ các triệu chứng báo trước để mong giải thích nỗi bất hạnh. Tuy vậy, nhưng rồi tôi vẫn cứ nghĩ hoài về điều đó. Chiến trường sau một thời gian im ắng, bắt đầu lấy lại nhịp cũ, và càng ngày càng trở nên khốc liệt. Kẻ địch dường như đã giải đáp xong những bài toán về tình hình.
Tôi miệt mài trong các cuộc hành quân. Nhưng đó không phải lý-do chính để tôi không ghé nhà mẹ Liễu nữa. Trong thâm tâm, tôi biết tôi không giận bà. Tôi không thể giận bà. Nhưng câu nói vô tình của bà, cái dư âm của ngày Tết ấy, bắt đầu hình thành trong tôi một nỗi sợ. Tôi không muốn nhận tình thương của một bà mẹ có đứa con trai duy nhất đã chết trẻ sang qua cho tôi. Để rồi một ngày nào đó. Nếu tôi nằm xuống. Chiến tranh mà. Điều đó quá dễ xảy ra. Hạnh phúc của một bà mẹ bỗng chốc sẽ thành nỗi đau thương vô hạn. Và còn một điều nữa. Tôi không thể dối lòng mình. Dung. Phải, nếu tôi cứ tiếp tục ghé thăm gia đình nàng. Một ngày nào đó tôi sẽ không thể cưỡng lại những gì sẽ nẩy nở giữa tôi và người con gái ấy. Và, nếu có chuyện gì, nỗi đau đớn của gia đình bạn tôi sẽ nhân đôi, nhân ba lên. Làm sao tôi biết được.
Tôi sợ. Tôi không thể nào không sợ. Ra trận trước bom đạn kẻ thù tôi không sợ. Nhưng những giọt nước mắt của những người thân yêu làm tôi sợ hãi. Không, phải ngăn chặn mọi thứ trước khi nó thành hình. Tôi không đến thăm. Bao nhiêu câu hỏi sẽ đến với mẹ Liễu. Sẽ không có lời nào để giải đáp. Bà sẽ buồn tôi, sẽ giận tôi. Nhưng thà rằng thế. Bởi bà sẽ không thể buồn lâu, giận lâu. Dẫu gì thì tôi cũng chỉ là một trong những đứa bạn cùng khoá của con trai bà. Tôi đến rồi đi. Tất cả chỉ là tình cờ do cuộc chiến tranh tàn khốc đưa đẩy, tạo nên. Không phải lỗi tại tôi. Chẳng phải lỗi tại ai cả. Tôi ngẫm nghĩ về điều Hùng nó nói. Đến một lúc nào đó có thể tôi sẽ thèm có một người con gái chen vào cuộc sống mình. Đó là số mệnh. Dù muốn hay không tôi cũng phải chấp nhận. Phải nghĩ thế để mà yên tâm đi tiếp cuộc hành trình vô định của cuộc chiến tranh không lối thoát. Nhưng đến đó hãng hay. Còn bây giờ, tôi không nên làm khổ bất cứ ai.
Chỉ duy nhất một năm sau đó trong một lần hành quân, đoàn xe chở đơn vị tôi đi ngang thị trấn Sông Cầu. Vì nhà của mẹ Liễu ở ngay con phố chính, nên ngồi trên xe tôi bắp gặp bóng dáng của bà trong sân trước nhà. Ôi, chỉ mới một năm không gặp, tôi có cảm tưởng bà già đi nhiều lắm. Đoàn xe đi qua khá lâu, hình ảnh của bà mẹ lưng hơi còng ngước đôi mắt hom hem sau đôi kính lão nhìn theo những chiếc xe nhà binh chạy qua vẫn còn đọng lại trong tôi. Bà nghĩ gì khi nhìn chúng tôi, những người lính? Hình ảnh ấy làm tim tôi nhói đau. Bất giác tôi nói thầm một mình. Cô tha lỗi cho con. Mẹï tha lỗi cho con. Con không muốn thế. Con không bao giờ muốn thế. Nhưng con sợ. Con sợ, mẹ hiểu cho con.
Thành Văn
Tháng mười nhớ lại - Hồi ký Vương mộng Long K20
Anh hùng của Quân đội VNCH - Phạm phong Dinh
Sau cơn mưa trời lại sáng - văn của Hoàng văn An k20
Noel và Pkeiku nỗi nhớ - Thơ Vương mộng Long K20
xin mời đọc thêm bài
Giới thiệu Trường Võ Bị ( Nguyên bản Anh ngữ của Dorsey Edward Rowe
Lê Bá Thông phiên dịch )
Tóm lược Lich sữ TVBQGVN
Lich sữ TVBQGVN
Nhớ trường Võ Bị ( Lê bá Thông )
Các tài liệu Lich sữ ( Sưu tầm của nhiều tác giả )