Tài liệu lịch sử
ĐẢO CHÁNH NGÀY 1/11/1963
Phạm Bá Hoa
Lời trần tình
Kính
thưa quí vị,
Trước
khi bắt đầu tôi rất đắn đo, vì
muốn ghi lại sự kiện trung thực ít nhất
cũng là trung thực với tôi về những gì mà tôi
biết và những gì mà tôi làm, tất nhiên là khó tránh
khỏi những đụng chạm đến quí vị,
đặc biệt là đối với Đại
Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng
Cao Văn Viên, và Đại Tướng Nguyễn Khánh
Riêng
với Đại Tướng Khiêm và Đại
Tướng Viên, là hai vị mà tôi luôn ghi nhớ nghĩa ân,
bởi vì tôi không có một
thân nhân hay một bạn bè nào quen biết khi bước
vào quân ngũ năm 1954. Cho
đến cuối năm 1961, đang trong trách nhiệm
Trưởng ban hành quân/Phòng 3 Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tôi
được cử giữ chức Chánh văn phòng Tư
Lệnh Sư Đoàn mà Đại Tướng Khiêm lúc
đó là Đại Tá Tư Lệnh. Từ đó cho
đến ngày cuộc chiến ngưng tiếng súng trong
nỗi tức tưỡi của hằng triệu quân nhân
dưới lá quốc kỳ nền vàng ba sọc
đỏ, và những lá quân kỳ từng tung bay trong hào
quang chiến thắng, tôi có môi trường thuận
lợi tiếp xúc với nhiều vị Tướng lãnh
cũng như nhiều giới chức trong cơ quan lập pháp, hành pháp, và
các cơ quan kinh tế.
Tôi
biết có những vị gần như mai danh ẩn tích
từ khi đến Hoa Kỳ sau ngày đất
nước vào tay cộng sản 30/4/1975, nhưng tôi xin phép
được nhắc đến quí vị trong tập
sách, và tôi chỉ nói
đến quí vị ở khía cạnh quí vị là những
vị lãnh đạo Quốc Gia, lãnh đạo Quân
Lực, chớ tôi không nói đến những riêng tư
của quí vị. Tôi xin tôn
trọng phần riêng tư đó. Về những gì tôi
viết vào đây, có thể có sự kiện nào đó mà quí
vị cho là không chính xác, nhưng theo tôi, tôi thấy đã
đủ thận trọng trong cách nhìn của tôi khi
viết những trang sách nhỏ này. Biết đâu, có
những điều mà tôi nói lên được sự
thật liên quan đến quí vị mà nhiều chục
năm qua chính quí vị cũng chưa biết đến,
và cũng có thể tôi làm sáng tỏ được
điều gì đó đối với dư luận dù
rằng quí vị cho là có hay không có cũng chẳng sao.
Thế
hệ chúng ta đã học nhiều bài học quí báu từ
trong lịch sử, và vận dụng vào bổn phận
công dân trong trách nhiệm bảo vệ quốc gia. Rồi
đây, những thế hệ sau chúng ta, cũng cần
đến lịch sử mà thế hệ chúng ta sẽ là
một phần quan trọng trong đó, và quí vị là thành
phần quan trọng hơn hết trong giai đoạn
lịch sử 1954 - 1975.
Lịch
sử một dân tộc không thể tự nhiên mà có.
Muốn có được lịch sử, tôi nghĩ, sau
chặng đường phục vụ quốc gia dân
tộc, mỗi người trong bất cứ lãnh vực
nào của xã hội, cần viết lại trên giấy
trắng mực đen về những hiểu biết xác
thực của mình trong từng phạm vi trách nhiệm lúc đương thời, và
viết với một trạng thái tâm hồn thật bình
thản. Từ đó, những nhà viết sử gom góp
lại, chọn lọc, phân tách, đánh giá, và tạo nên
những dòng sử qua từng giai đoạn thăng
trầm của đất nước. "Tiếng
thơm muôn đời hay lời sỉ nhục lưu mãi
trong sử sách", không phải người này tạo cho
người kia, hay ngược lại, mà mỗi
người trong xã hội tự tạo cho chính mình qua
những nghĩ suy, những phương tiện diễn
đạt, và trong những môi trường hành
động.
Tôi
không dám nghĩ đây là một sử liệu, nhưng tôi
cố gắng ghi chép đúng theo trí nhớ của tôi,
để các sử gia may ra tham khảo được
đôi điều trong khoảng thời gian nghiêng ngã
của đất nước, mà thuở đó, quyền
lực nằm trong tay quí vị. So với ấn bản
lần 1, lần 2, và lần 3, ấn bản lần 4 này có
vài sắp xếp lại về cách trình bày và bổ túc thêm
một số chi tiết, vì 1.600 trang giấy học trò mà
tôi lén lút viết lại trong thời gian bị giam ở
trại tù Nam Hà trên đất Bắc, lén lút gởi về
gia đình cất giữ, và khi đoàn tụ với gia
đình tôi vẫn tiếp tục viết, đến nay tôi
đã nhận đầy đủ từ Việt Nam
gởi sang. Cùng với những sự kiện mà cựu
Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ
Tướng từ năm 1970 đến năm 1975, và
cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham
Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
từ năm 1965 đến năm 1975, hai vị cho tôi
biết thêm nhân khi vợ chồng tôi đến Virginia
hồi đầu tháng 9 năm 2003, thăm hai vị và gia
đình. Đó là những
số sự kiện mà tôi không biết hoặc có
biết nhưng không biết rõ, đồng thời hai
vị có hỏi tôi một vài sự kiện mà hai vị
không biết rõ. Sau đó, vào tối ngày 21 tháng 10 cùng năm
(2003), cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm
từ Virginia điện thoại xuống tôi ở Houston,
Texas, nói chuyện gần 2 tiếng đồng hồ, ông
cho tôi biết thêm một số chi tiết nữa, và tôi có
hỏi ông về trường hợp Trung Tá Phạm
Ngọc Thảo trong cuộc đảo chánh ngày 19 tháng 2
năm 1965. Và tôi được khuyến khích bổ túc vào
ấn bản 4 này.
Xin
quí vị vui lòng, và trân trọng kính chào quí vị.
Houston, năm 1994,
bổ sung năm 2001, 2002, và 2003.
Phạm Bá Hoa
* * * * *
Ngày
8 tháng 5 năm 1963, Phật tử thành phố Huế
biểu tình trước đài phát thanh đòi
được treo cờ Phật Giáo trong ngày Phật
Đản, đã bị đàn áp bằng bạo lực gây
thiệt hại nhân mạng.
Vài
ngày sau đó, Thượng Tọa Thích Tịnh Khiết,
vị lãnh đạo tối cao của Phật Giáo đã
gởi bản Tuyên Ngôn lên chánh phủ, trong đó, Phật
Giáo đòi được hưởng chế độ
ngang hàng với Thiên Chúa Giáo. Chánh phủ đã bắt giam
nhiều chức sắc lãnh đạo của Phật Giáo
tại nhiều nơi, nhất là tại Huế.
Trung
tuần tháng 6/1963, Thượng Tọa Thích Quảng
Đức, trụ trì một ngôi chùa nhỏ vùng Phú
Nhuận (Sài Gòn), đã tự thiêu tại góc
đường Lê văn Duyệt và Phan đình Phùng, trung
tâm thủ đô Sài Gòn, trước các ống kính của
rất nhiều nhà báo Việt Nam và ngoại quốc.
Rồi sau đó, lần lượt thêm bảy tám vụ
tự thiêu nữa tại các tỉnh. Không khí chính trị
sôi sục với những cuộc mít tinh biểu tình
của đông đảo sinh viên học sinh, đồng
bào -nhất là đồng bào Phật tử- lác đác có
cả Quân Nhân viên chức và Cảnh Sát nữa. Nhiều
phóng viên báo chí truyền thanh truyền hình ngoại quốc
-nhất là Hoa Kỳ- đến Việt Nam ghi nhận và
đánh giá tình hình.
THIẾT QUÂN LUẬT
Trước
khi hết giờ làm việc chiều ngày 20/8/1963, Thiếu
Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng
Liên Quân, gọi tôi vào văn phòng:
-
Tối nay, chú với mấy chú văn phòng làm việc
tại đây. Chú cho mấy chú luân phiên về dùng cơm
rồi trở lại ngay. Chú cần hỏi gì thêm không?
-
-
Có cần ngủ lại đây không, thưa Thiếu
Tướng? -
-
Có thể không cần. Sẽ có lệnh sau -
Đây
là lần đầu tiên kể từ khi cầm quyền
vào tháng 7/1954, Tổng Thống Ngô Đình Diệm ra lệnh
bộ Tổng Tham Mưu ban hành lệnh thiết quân
luật trong phạm vi thủ đô Sài Gòn để
Cảnh Sát cùng mật vụ bao vây các chùa, tìm bắt
Thượng Tọa Thích Trí Quang, vị sư
được xem là lãnh đạo Phật Giáo. Nhưng
với sự trợ giúp của nhân viên trong tòa đại
sứ Hoa Kỳ,
Thượng Tọa đã vượt rào vào khuôn viên tòa
đại sứ và được phép tạm trú nơi
đây.
Thế
là, từ đòi hỏi trong bản Tuyên Ngôn không
được giải quyết, đến các vụ
tự thiêu để phản đối chánh phủ,
rồi đến vụ nhà cầm quyền vây bắt
hụt Thượng Tọa Thích Trí Quang, dần dần
đẩy Phật Giáo đến cuộc tranh đấu
vừa ôn hòa vừa bạo động tại hầu
hết các tỉnh miền Trung và một số tỉnh miền
Nam, đã làm cho tình hình chung của Việt Nam Cộng Hòa
trở nên tệ hại hơn bao giờ hết, kể
từ sau Hiệp Định Đình Chiến Genève năm
1954.
Đấy
là phản ứng quyết liệt của giáo hội
Phật Giáo và Phật tử trên toàn quốc.
Với
một tình hình như vậy, đã làm cho hầu hết các
nước trong khối Tự Do, kể cả Hoa Kỳ là
quốc gia ủng hộ Tổng Thống Ngô Đình
Diệm mạnh mẽ nhất, đều phản
đối chính sách tôn giáo trong hành động đàn áp
bắt giữ các chức sắc Phật Giáo và Phật
tử Việt Nam. Trước dư luận quốc
nội lẫn quốc tế, Tổng Thống Ngô Đình
Diệm khó mà biện minh chính sách kỳ thị tôn giáo, cho
dù lệnh cấm treo cờ Phật Giáo cũng như
lệnh dùng bạo lực trực tiếp hay không trực
tiếp do Tổng Thống ban hành cũng vậy. Vì
thuở ấy, quyền lực rất lớn trong tay hai em
của Tổng Thống là ông Ngô Đình Nhu "Cố
Vấn Chính Trị" và ông Ngô Đình Cẩn "Cố
Vấn Chỉ Đạo Miền Trung".
Ông
Ngô Đình Diệm, được Quốc Trưởng
Bảo Đại mời về Việt Nam vào giữa
năm 1954 và nhận chức Thủ Tướng ngày
7/7/1954. Thật ra thì Quốc Trưởng Bảo
Đại cũng không bằng lòng cho lắm khi giao chức
Thủ Tướng cho ông Diệm, nhưng vì không có cách
lựa chọn nào khá hơn. Với lại từ trong
hậu trường, ông Ngô Đình Diệm đã
được Hoa Kỳ ủng hộ.
Ông
Bảo Đại là vị vua cuối cùng của nhà
Nguyễn, đã bị Việt Minh cộng sản
cưỡng bách thoái vị vào mùa thu năm 1945. Đến
năm 1949, chánh phủ Pháp đưa về Việt Nam
(từ Pháp) nhận chức Quốc Trưởng do Pháp
"đề cử" dù là có những cuộc hội
họp của các nhà chính trị Việt Nam như là sự
vận động với Pháp, để giúp cho cuộc
chiến tranh xâm lược lần hai của thực dân
Pháp khả dĩ có màu sắc cuộc chiến tranh nội
bộ của Việt Nam, mà nước Pháp có mặt
để "giúp đở"(!) Việt Nam chống
cộng sản. Với chức vụ cao nhất
nước cho dù bị giới hạn quyền hành,
nhưng ông đã không tận dụng thực dân Pháp
để vừa xây dựng quốc gia non trẻ vừa
chống lại chủ nghĩa cộng sản đang
bắt rễ tại Việt Nam, mà ông lại sống nhàn
nhã trên đất Pháp nhiều thời gian hơn là có
mặt trên quê hương Việt Nam đầy sóng gió!
Trong
khi đó, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm dựa vào
sự ủng hộ của Hoa Kỳ, ông bắt
đầu có những chống đối Quốc
Trưởng, và đặc biệt là ông đã không tuân
lệnh Quốc Trưởng gọi sang Pháp nhận
lệnh. Thủ Tướng Diệm vội vã xúc tiến tổ
chức cuộc trưng cầu ý dân vào ngày 23/10/1955. Kết
quả là cựu hoàng Bảo Đại bị truất
phế khỏi chức Quốc Trưởng, và Thủ
Tướng Diệm trở thành vị Tổng Thống
đầu tiên của Việt Nam từ ngày 26/10/1955. Từ
đó, ngày này được chọn làm ngày Quốc Khánh
hằng năm. Tiếp sau, Tổng Thống Diệm công
bố: "Việt Nam là một nước Cộng
Hòa", và danh xưng của Việt Nam là "Việt Nam
Cộng Hòa".
Tổng
Thống Ngô Đình Diệm, trong những năm đầu
cầm quyền, với sự ủng hộ mạnh
mẽ của Hoa Kỳ, đã được nhiều
quốc gia trên thế giới công nhận và thiết
lập bang giao. Ông đã
ổn định được cuộc sống cho
non một triệu người từ miền Bắc
chạy trốn chế độ cộng sản
trước khi chúng tiến vào các thành phố trên
đất Bắc theo Hiệp Định đình chiến
Genève 20/7/1954. Hiệp Định này chia đôi Việt Nam
tại vĩ tuyến 17 mà trên địa thế là sông
Bến Hải với cầu Hiền Lương. Từ
vĩ tuyến 17 trở lên Bắc là nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa theo chế độ độc
tài do đảng cộng sản Việt Nam cai trị.
Từ vĩ tuyến 17 trở xuống Nam là nước
Việt Nam Cộng Hòa theo chế độ dân chủ tự
do. Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã cải
thiện được tình hình kinh tế xã hội trong
mức độ khả quan.
Về
quân sự. Theo sự cố vấn của phái bộ quân
sự Hoa Kỳ, quân đội đã được
tổ chức lại và phát triển từ cấp Tiểu
Đoàn lên cấp Trung Đoàn, Sư Đoàn, Quân Đoàn,
trên căn bản quân đội trong chiến tranh qui
ước. Mọi dụng cụ chiến tranh trang bị
cho quân đội, đều do Hoa Kỳ cung cấp.
Về
chính trị. Ông đã thành công đáng kể trong nổ
lực ôn hòa lẫn sử dụng võ lực trong mục
đích đem lực lượng võ trang của Bình Xuyên,
của Hòa Hảo, và Cao Đài về hợp tác hoặc
giải thể. Lực lượng võ trang Phật Giáo Hòa
Hảo và Cao Đài, là hai lực lượng chống
cộng sản quyết liệt.
Đó
là sự thành công bước đầu không ai phủ
nhận được. Nhưng, dần đần về
sau, chế độ dưới quyền Tổng Thống
đã thể hiện tính cách "gia đình trị",
bởi vì ngoài Tổng Thống ra, còn có:
-
Thứ nhất, em trai Ngô Đình Nhu trong chức vụ
Cố Vấn Chính Trị, và vợ ông Nhu là bà Trần
Lệ Xuân, rất nhiều quyền lực trong tay vì
Tổng Thống Diệm vẫn còn độc thân.
-
Thứ nhì, em trai Ngô Đình Cẩn trong chức vụ không
hề có trong tổ chức quốc gia là Cố Vấn
Chỉ Đạo Miền Trung, ông sống độc thân.
Là người không có văn bản bổ nhiệm nhưng
lại có toàn quyền đối với các tỉnh duyên
hải miền Trung, đặc biệt là các tỉnh
Quảng Trị, Thừa Thiên/Huế, Quảng Nam Đà
Nẳng, Quảng Tín, và Quảng Ngãi. Quyền lực
của ông có thể xem như "vị sứ quân"
của 5 tỉnh này.
-
Thứ ba, anh trai Ngô Đình Thục, Tổng Giám Mục
địa phận Vĩnh Long, về sau là địa
phận Huế. Tuy là chức sắc trong tôn giáo, nhưng
tiếng nói của ông ảnh hưởng rất lớn
đối với công việc chánh quyền mà các em của
ông nắm giữ.
-Thứ
tư, em trai Ngô Đình Luyện, Đại Sứ Việt
Nam Cộng Hòa tại Anh quốc, được xem là
người ít dính dáng đến những tệ hại mà
các anh của ông gây ra trên quê hương.
Tổng
Thống Ngô Đình Diệm và hai em của ông là Ngô Đình
Nhu và Ngô Đình Cẩn, đã lần lượt dẹp các
tổ chức chính trị đối lập bằng cách
"thanh toán" các nhà chính trị trong những tổ
chức đó.
Rồi
đến sự lộng hành của bà Trần Lệ Xuân
-em dâu ông- tại các diễn đàn quốc tế cũng như
quốc nội, đặc biệt là trong thời gian
xảy ra cuộc đàn áp Phật Giáo nhiều nơi trên
toàn quốc, bà đã nhiều lần tuyên bố công khai
với vẻ miệt thị và tàn nhẫn khi nói
đến những vụ tự thiêu của các nhà sư
phản đối chánh quyền, bà gọi đó là "các
nhà sư nướng thịt người thì cứ
để họ nướng..."
Những
sự kiện đó đã đưa người dân từ
ủng hộ chánh phủ lúc đầu, dần dần
trở nên bất mãn, đến mức căm thù chế
độ mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm là
người trách nhiệm chính.
Vậy,
sự kiện đàn áp Phật Giáo ngày 8/5/63 và những hành
động tệ hại tiếp theo, là nguyên nhân quốc
nội dẫn đến cuộc đảo chánh 1/11/63. Tôi
nói "nguyên nhân quốc nội", vì theo tôi, còn có
"nguyên nhân quốc tế" nữa.
ĐẢO CHÁNH
Ngày
01 tháng 11 năm 1963, ngày lễ "Các Thánh Tử
Đạo", quân đội được nghỉ
buổi sáng. Khoảng 7 giờ sáng, chuông điện
thoại nhà tôi reo:
-
Đại Úy Hoa tôi nghe -
-
Chú đến nhà tôi ngay -
-
Vâng. Tôi đến ngay, thưa Thiếu Tướng -
Đó là Thiếu Tướng Trần
Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng Liên Quân Quân
Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhà tôi và nhà ông cùng ở
trong khuôn viên trại Trần Hưng Đạo -tức
Bộ Tổng Tham Mưu- cách nhau khoảng vài trăm
thước. Ông ở khu nhà lầu, tôi ở khu nhà
trệt.
-
Chào Thiếu Tướng -
-
Chú lấy ghế ra sân với tôi -
Hoàn
toàn khác lạ với mỗi lần tôi đến nhận
lệnh, nên tôi nghĩ ngay đến một vấn
đề gì đó phải là quan trọng lắm, bởi
thường khi chỉ ngồi trong nhà. Thiếu
Tướng Khiêm và tôi cùng ngồi ở góc sân sát hàng rào:
-
Chú nghe đây. Lệnh mà tôi sắp cho chú là lệnh tối
mật, nếu chú tiết lộ thì chú bị đứt
đầu trước tôi. Chú không được nói
với bất cứ ai, kể cả vợ chú và chú Có. Chú
nghe rõ chưa? -
-
Tôi nghe rõ, thưa Thiếu Tướng -
"Chú
Có" mà Thiếu Tướng Khiêm vừa nói là Trung Úy
Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tùy viên của Thiếu
Tướng Khiêm từ năm 1960. (Trung Úy Có nói ở
đây, trùng họ tên lẫn chữ lót với Đại
Tá Nguyễn Hữu Có. Năm 1975, Trung Úy Có là Đại Tá,
Phụ Tá Võ Phòng/Phủ Thủ Tướng).
-
Hôm nay, tôi và một số vị Tướng Lãnh
đảo chánh ông Diệm. Và những việc sau đây chú
phải làm xong trong buổi sáng. Thứ nhất, đây là
danh sách mời dùng cơm trưa tại câu lạc bộ
(bộ Tổng Tham Mưu). Thức ăn do chú sắp
xếp. Nhớ, các vị được mời phải có
mặt tại câu lạc bộ đúng 12 giờ hoặc
trước đó chút ít. Thứ nhì, đây là danh sách
mời họp tại phòng họp số 1 (tầng trệt
trong toà nhà chánh). Yêu cầu các vị này có mặt tại
phòng họp chậm nhất là trước 1 giờ
trưa. Đúng 1 giờ, chú cho lệnh Quân Cảnh khóa
cửa lại và không ai được ra vào bất cứ
vì lý do gì khi chưa có lệnh tôi. Cả hai danh sách này,
nếu chú không liên lạc được với bất
cứ ai hoặc có gì trở ngại thì chú trình ngay cho tôi.
Đến đây chú rõ chưa? -
-
Vâng. Tôi rõ, thưa Thiếu Tướng -
-
Và thứ ba. Chú tổ chức an ninh chu đáo khuôn viên
bộ Tổng Tham Mưu, bằng cách sử dụng
Đại đội 1 Quân Cảnh (của Tổng Tham
Mưu) và các thành phần an ninh của Tổng Hành
Dinh/Tổng Tham Mưu. Tất cả các cổng đóng
lại, tuyệt đối không được mở,
riêng cổng số 1 (tức cổng chánh), bất cứ ai
ra hay vào đều phải trình tôi. Lệnh của tôi xong,
chú có gì cần hỏi không? -
-
Thưa Thiếu Tướng, lý do mời họp tôi
phải nói thế nào để không bị ngờ vực?
-
-
Tùy chú. Nhớ, chỉ một chút sơ hở là chú
đứt đầu đó. Thôi, chú vào văn phòng làm
việc đi -
Khuôn
viên trại Trần Hưng Đạo có các cổng số
1 hướng ra giao lộ Võ Tánh và đường Cách
Mạng, cổng số 2 và số 5 hướng ra
đường Võ Tánh, cổng số 10 hướng ra
đường Cách Mạng, cổng số 3 và số 4
hướng ra đường Võ di Nguy.
Đảo
chánh. Đây là lần thứ hai mà tôi nghe thấy trong
đời binh nghiệp. Lần thứ nhất, xảy ra
vào nửa đêm về sáng ngày 11/11/1960, lúc đó tôi đang
học lớp tham mưu tại trường Đại
Học Quân Sự, tọa lạc trong khuôn viên bộ
Tổng Tham Mưu. Nhóm lãnh đạo cuộc đảo
chánh thất bại vì không được sự ủng
hộ của các vị Tư Lệnh đại đơn
vị. Đại Tá Trần Thiện Khiêm, Quyền Tư
lệnh Quân Khu 5 kiêm Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ
Binh, đưa quân từ Sa Đéc và lực lượng Sư
Đoàn 7 Bộ Binh từ Mỹ Tho về đẩy lui
lực lượng đảo chánh. Đại Tá Nguyễn
Chánh Thi -Tư Lệnh Nhẩy Dù- và các sĩ quan trong thành
phần lãnh đạo đảo chánh, đã dùng phi cơ
vận tải quân sự C.47 bay sang Nam Vang -thủ đô Cam
Bốt- xin tị nạn chính trị.
Và
lần đảo chánh này, dù muốn hay không muốn, tôi
cũng phải can dự vào cho dù là can dự như một
sĩ quan thừa hành tin cậy. Lệnh tối mật mà
tôi vừa nhận quả là bất ngờ và phải thi
hành trong thời gian cấp bách, với lại dù diễn
đạt như thế nào đi nữa thì tôi cũng là
người chịu ơn Thiếu Tướng Trần
Thiện Khiêm, cho nên tôi không hề nghĩ cũng như
không kịp nghĩ đến điều sắp thi hành là
sai hay đúng, và nên hay không nên làm. Bởi Thiếu
Tướng Khiêm không hề biết tôi và ngược
lại tôi cũng chưa một lần phục vụ
dưới quyền ông, cho đến khi ông về nhận
chức Tư Lệnh Sư Đoàn 21Bộ Binh tại
Bến Kéo tỉnh Tây Ninh vào đầu tháng 2/1960, thay
thế Trung Tá Trần Thanh Chiêu bị cách chức sau vụ
Trung Đoàn 32 Bộ Binh bị quân cộng sản
đột kích lúc 3 giờ sáng ngày 29/1/1960 tại Trãng
Sụp, cách tỉnh lỵ Tây Ninh khoảng 6 cây số
về phía bắc, gây tổn thất nặng nề về
vũ khí với một số tổn thất nhân mạng.
Lúc đó, tôi đang là Trung Úy, trưởng ban hành quân/phòng 3
Sư Đoàn.
Vài
tháng sau đó, Sư Đoàn được lệnh Tổng
Thống Ngô Đình Diệm chuyển xuống Quân Khu 5,
hoạt động an ninh vùng Đồng Tháp Mười.
Bộ tư lệnh Sư Đoàn trở lại nơi
đồn trú cũ là quận lỵ Sa Đéc. Đến
giữa năm 1960, Đại Tá Khiêm được
Tổng Thống cử giữ chức Quyền Tư
Lệnh Quân Khu 5 tại Cần Thơ kiêm Tư Lệnh
Sư Đoàn 21 Bộ Binh tại Sa Đéc, thay Đại
Tá Nguyễn Văn Y chuyển về trung ương. Tháng
4/1961, lãnh thổ quân sự được tổ chức
lại thành 3 Vùng Chiến Thuật do 3 Quân Đoàn trách nhiệm.
Quân Đoàn I/Vùng I Chiến Thuật tại Đà Nẳng,
bao gồm 5 tỉnh cực bắc duyên hải. Quân Đoàn
II/Vùng II Chiến Thuật tại Pleiku, bao gồm các
tỉnh Cao Nguyên và các tỉnh duyên hải phía nam. Quân
Đoàn III lâm thời/Vùng III Chiến Thuật tại Sài Gòn, bao gồm các tỉnh vùng
đất chuyển tiếp miền nam và trọn vùng
đồng bằng Cửu Long. Những tháng cuối
năm 1961, tôi được thăng cấp Đại Úy
và được cử giữ chức Chánh văn phòng
tư lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh mà vị Tư
Lệnh là Đại Tá Trần Thiện Khiêm. Sư Đoàn
đã chuyển sang đồn trú tại Cần Thơ và
trách nhiệm Khu 33 Chiến Thuật, cũng gọi là Khu
Chiến Thuật Hậu Giang. Ngày 6/12/1962, Đại Tá
Trần Thiện Khiêm thăng cấp Thiếu Tướng,
đồng thời được cử giữ chức
Tham Mưu Trưởng Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu,
thay Thiếu Tướng Nguyễn Khánh lên Pleiku nhận
chức Tư Lệnh Quân Đoàn II/Vùng II Chiến
Thuật. Chức vụ "Tham Mưu Trưởng Liên
Quân" là chức vụ mới thành lập, trước
đó chỉ là Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham
Mưu. Ngày 17/12/1962, tôi thuyên chuyển theo Thiếu
Tướng Khiêm về Bộ Tổng Tham Mưu, và từ ngày
đó, tôi giữ chức Chánh văn phòng Tham Mưu
Trưởng Liên Quân. Vì vậy mà tôi thi hành nhiệm vụ
tối mật này một cách tích cực.
Trở lại việc thi hành
lệnh của Thiếu Tướng Khiêm. Đầu tiên, tôi gọi Trung Úy
Nguyễn Hữu Có và các nhân viên vào văn phòng. Trung Úy Có có
trách nhiệm liên lạc với quản lý câu lạc bộ
lo bữa ăn trưa. Tiếp đó là điện
thoại đến Đại Đội 1 Quân Cảnh
(trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu):
-
Tôi, Đại Úy Hoa đây. Anh cho tôi nói chuyện với
Trung Úy Phụng (Nguyễn Thúc Phụng) Đại
đội trưởng -
-
Vâng. Đại Úy chờ một chút - Hạ sĩ quan
trực trả lời.
-
Chào Đại Úy, tôi Phụng đây. Đại Úy đang
ở đâu đó? -
-
Chào anh. Tôi đang ở văn phòng. Anh Phụng à, trong vòng 3
tiếng đồng hồ tới đây, anh có thể
tập trung tất cả anh em hay ít nhất cũng là
tối đa quân số của Đại Đội
được không? -
- Dạ được -
-
Vì vấn đề an ninh trong trại Trần Hưng
Đạo hôm nay, anh phải cố gắng hết sức
nghe anh. Khi tập họp xong hoặc chậm lắm là 10
giờ 30, anh điện thoại lại tôi để
nhận lệnh chi tiết. Anh có gì cần hỏi thêm không?
-
-
Có chuyện gì vậy Đại Úy? -
-
Lệnh của Thiếu Tướng như vậy chớ
tôi không biết gì hơn anh đâu. Thôi nghe. Anh lo phần
anh, tôi còn vài việc khác nữa. Chào anh -
Tôi
mời Thiếu Tá Luông (Nguyễn Văn Luông), Chỉ Huy Phó
Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đến văn phòng.
Thiếu Tá Luông, năm 1958 là Trung Đoàn Trưởng Trung
Đoàn 35 Bộ Binh/Sư Đoàn 12 Khinh Chiến,
đồn trú tại Kon Tum. Lúc đó, tôi là Trung Úy,
trưởng ban 3 kiêm trưởng ban 5 Bộ Chỉ Huy
Trung Đoàn này. Thì ra Thiếu Tá Luông đã nhận lệnh
của Thiếu Tướng Khiêm rồi, nhưng tôi
vẫn nói thêm chi tiết về an ninh:
-
Thưa Thiếu Tá, với Đại Đội Quân
Cảnh thì tôi đã điện thoại cho Trung Úy Phụng
rồi. Xin Thiếu Tá đúng 1 giờ trưa, đóng
tất cả các cổng lại và đưa lực
lượng bảo vệ đến bố trí ngay lúc
đó. Cổng số 2, 3, 4, 5, và 10, tuyệt đối
không mở cho đến khi có lệnh. Riêng cổng số
1, lệnh của Thiếu Tướng Tham Mưu Trưởng
là bất cứ giới chức nào muốn ra hay vào, xin
Thiếu Tá hoặc trưởng toán Quân Cảnh
điện thoại vào tôi và chờ tôi trình Thiếu
Tướng -
-
Vấn đề an ninh tòa nhà chánh, anh lo hay tôi lo? -
-
Thưa Thiếu Tá, tôi phụ trách. Để cho rõ ràng, an
ninh trong phạm vi trại Trần Hưng Đạo thì
Thiếu Tá trách nhiệm, riêng phạm vi tòa nhà chánh tôi lo.
Về lực lượng, xin Thiếu Tá cho tôi 2 chiếc
Thiết Giáp AM/M8 lên tăng cường cho tôi cùng với 2
tổ đại liên đặt trên nóc tòa nhà chánh. Xin
nhắc lại, tất cả mọi việc chỉ
được thực hiện ngay trước lúc 1
giờ trưa. Xin Thiếu Tá vui lòng chỉnh lại
đồng hồ để có giờ thống nhất.
Thiếu Tá còn cần gì không? -
-
Để tôi về lo ngay cho kịp. Chào anh nghe -
-
Chào Thiếu Tá -
Lần
lượt tôi điện thoại các vị trong danh sách 1,
tức là danh sáchmời dùng cơm nhưng thật ra là quí
vị trong nhóm đảo chánh, mà hầu hết các vị
này đều biết trước. Kế tiếp, tôi
mời các vị trong danh sách 2, tức danh sách mời
họp nhưng thật ra sẽ bị giữ để
cách ly với cuộc đảo chánh. Vì trục trặc với hai vị trong danh sách
2, tôi điện thoại đến Thiếu Tướng
Khiêm:
-
Trình Thiếu Tướng, tôi Hoa đây. Tôi đã
điện thoại xong, nhưng có trở ngại là không
liên lạc được với Đại Tá Huỳnh
Hữu Hiền (Tư Lệnh Không Quân) và Đại Tá
Hồ Tấn Quyền (Tư Lệnh Hải Quân). Theo
người nhà của hai vị ấy cho biết, thì
Đại Tá Hiền đang trên không trình Sài Gòn-Đà
Lạt, tôi có dặn người nhà trên đó khi
Đại Tá Hiền đến nơi thì điện
thoại về tôi gấp. Còn Đại Tá Quyền thì
người nhà nói có lẽ đã đi lễ nhà thờ,
nhưng tôi gọi đến nhà thờ Đức Bà
nhờ người tìm mà không gặp. Tôi sẽ cố
gắng nhưng không chắc là tôi sẽ thực hiện
được, thưa Thiếu Tướng -
-
Chú ráng tìm hai ổng, phần tôi, tôi cũng tìm cách liên
lạc -
-
Vâng. Chào Thiếu Tướng -
Đến
đây xin mở ngoặc để nói thêm về
Đại Tá Hồ Tấn Quyền. Tối ngày 6/9/2003,
trong lúc dự tiệc cưới tại Washington DC, vợ
chồng tôi ngồi chung bàn với cựu Trung Tướng
Ngô Quang Trưởng và cựu Phó Đề Đốc Hồ
Văn Kỳ Thoại. Bỗng dưng ông Thoại nhắc
đến vụ 1/11/1963, vì sau ngày Đại Tá Quyền
bị giết ông nghe người nhà Đại Tá Quyền
nói là có một sĩ quan nào đó ở Tổng Tham Mưu
điện thoại mời Đại Tá Quyền đi
họp không biết điều đó có đúng không? Vì
nếu đúng thì có thể là Đại Tá Quyền không
bị giết nếu ông ấy đi họp, dù rằng
tối hôm ấy tôi
được biết nếu có đi họp cũng
bị cách ly với cuộc đảo chánh, nhưng cách ly
có thể thoát chết. Thế là tôi lên tiếng:
- Thưa Anh, người mời
Đại Tá Quyền hôm ấy là tôi. Người cầm
ống nói đã trả lời cho tôi là Đại Tá
Quyền có thể đã đi nhà thờ, nhưng sau đó
tôi đã hai lần điện thoại đến nhà
thờ nhưng không tìm thấy Đại Tá Quyền.
-
Đại Tá Quyền chưa đến giờ đi nhà
thờ nên trong sân tennis với tôi - Anh Thoại quay hẳn
sang tôi và tiếp:
-
Khi ông Lực, sĩ quan tùy viên, đến mời
Đại tá Quyền lên Thủ Đức dự tiệc
mừng sinh nhật của Đại tá Quyền do anh em
Hải Quân tổ chức trên đó, có lẽ thấy
Đại tá Quyền chần chừ nên ông Lực nói
tiếp:
-
Đại Tá ráng đi vì anh em muốn dành cho Đại Tá
sự bất ngờ nên không trình trước với
Đại Tá-
Rồi
Đại Tá Quyền có vẻ nể nang nên lên xe đi. Và
sau đó thì bị ông Lực giết chết. Nếu
như người nhà điện thoại đến sân
tennis báo tin Tổng Tham Mưu mời đi họp, rất
có thể là Đại tá Quyền không bị giết
như vậy -
Xin
đóng ngoặc, và trở lại hoạt động trong
văn phòng tôi.
Điện
thoại reo:
-
Đại Úy Hoa tôi nghe -
-
Phụng đây Đại Úy. Tôi tập trung Đại
Đội xong rồi, Đại Úy có lệnh gì cho tôi? -
-
Cám ơn Anh, và đây là chi tiết: Ngay bây giờ, anh
sẳn sàng tại chổ 3
Tiểu Đội và tôi sẽ điều động công
tác trong chốc lát. Điều quan trọng là 3 Tiểu
Đội này phải di chuyển ngay tức thì khi có
lệnh. Phần còn lại của Đại Đội,
anh liên lạc với Thiếu Tá Luông (Tổng Hành
Dinh/Tổng Tham Mưu) để nhận lệnh. Anh
cần biết gì thêm không? -
-
Dạ không Đại Úy -
-
Xin anh đừng rời xa điện thoại nghe anh
Phụng. Chào anh -
Chuẩn
bị bữa ăn hôm nay, Trung Úy Nguyễn Hữu Có chu toàn
trách nhiệm mặc dù anh không biết tại sao lại có
bữa ăn bất thường này. Bữa ăn trưa
hôm nay rất quan trọng, nhưng không quan trọng về
thực khách mà là quan trọng ở chổ ngụy trang cho
buổi họp mặt tối mật của các vị trong
nhóm lãnh đạo đảo chánh quân sự. Tôi nói ngụy
trang, vì trong vòng 3 tuần lễ trước ngày này,
Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm thường có
những buổi tối đi đâu đó mà tôi không
biết chính xác mặc dù hệ thống liên lạc
đặc biệt giữa tôi tại nhà, với toán
cận vệ trên xe theo sau xe Thiếu Tướng mỗi
khi ra khỏi nhà, chúng tôi giữ liên lạc thường
xuyên nhưng vẫn không bám sát được vị trí
của ông. Điển hình trong một tối, xe bắt
đầu rời nhà Thiếu Tướng Khiêm, tôi
được thông báo và mở máy liên lạc ngay. Một
lúc sau:
-
Hồng Hà. Hồng Hà. Bắc Bình gọi. Trả lời
-
-
Hồng Hà tôi nghe 5/5. Có gì cho tôi. Trả lời -
-
Tôi dừng xe ở đường 45 (ám danh của
đường Kỳ Đồng), Bông Hồng đã có xe
khác đón nhưng không rõ đi dâu, tôi chỉ
được lệnh chờ tại chổ. Nghe rõ
trả lời? -
-
Tôi nghe 5/5. Thi hành lệnh. Giữ liên lạc với tôi.
Trả lời -
-
Nghe rõ -
Xin
nói thêm. Chữ "trả lời" ở cuối
mỗi câu khi liên lạc vô tuyến là điều qui
định khi học về Truyền Tin trong trường
quân sự. Chữ này cũng có nghĩa "đến
đây là hết câu".
Hồng
Hà là danh hiệu của tôi. Bắc Bình là danh hiệu
của toán an ninh. Và Bông Hồng là danh hiệu của
Thiếu Tướng Khiêm. Tất cả chỉ dùng trong
hệ thống liên lạc an ninh này mà thôi.
Một
buổi tối khác. Thiếu Tướng Khiêm cũng đi
một cách bí mật như vậy, trong lúc tôi tự
đặt ra những giả thuyết và phân tích để
tìm giả thuyết có thể chấp nhận
được về hoạt động bất
thường đó, thì chuông nhà tôi reo:
-
Đại Úy Hoa, tôi nghe -
-
Trung Tá Đường đây, tôi có gọi đằng
tư dinh Thiếu Tướng Khiêm để ông Cố
Vấn (Ngô Đình Nhu) nói chuyện với Thiếu
Tướng nhưng không gặp. Ông Cố Vấn bảo
tôi nói với anh và anh trình lại Thiếu Tướng Khiêm
là tình hình Sài Gòn lúc này phức tạp lắm, bọn
Việt Cộng tung những tổ đặc công vào
nội thành, chuyên ám sát các tướng lãnh và các sĩ quan
cao cấp. Ông Cố Vấn dặn Thiếu Tướng
không nên ra khỏi nhà sau giờ làm việc. Đó là
lệnh, anh rõ chưa? -
-
Thưa Trung Tá, tôi nghe rõ -
-
Chào anh -
Đó
là Trung Tá Phạm Thư Đường, Chánh văn phòng ông
Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Đến giờ phút này
(tức giờ phút nhận lệnh của Trung Tá
Đường) thì tôi hiểu rằng, chẳng phải
ông Cố Vấn lo cho những người dưới
quyền, mà chính là ông muốn theo dõi những người
dưới quyền ông có hành động gì có thể
"phản trắc" đối với anh em ông hay
không, vì tình hình ngày càng tồi tệ thêm và tự nó đã
lung lay chiếc ghế cầm quyền của Tổng
Thống lẫn của ông Cố Vấn. Cũng vì vậy
mà trong thời gian xảy ra sự đối đầu
của Phật Giáo với Chánh Phủ, dư luận
từ các nhà chính trị đối lập về kế
hoạch Bravo 1 của ông Cố Vấn Nhu, theo đó ông
Cố Vấn Nhu dự định thực hiện
cuộc đảo chánh giả để phát hiện và
triệt tiêu những ai chống đối chế
độ, không phải là không có cơ sở.
10
phút trước 1 giờ 00, tôi nhắc Thiếu Tá Luông
chuẩn bị đóng các cổng cùng lúc với việc
điều động lực lượng tăng
cường cho các cổng. Mặt khác, tôi kiểm lại
các vị trong danh sách 2. Và cho đến lúc này, vẫn còn
thiếu Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền và
Đại Tá Hồ Tấn Quyền.
Ngay
lúc trước 1 giờ 00, tình hình trong trại Trần
Hưng Đạo nói chung và tòa nhà chánh nói riêng, như
sau:
-
Tất cả các cổng số 1, 2, 3, 4, 5, và 10, đều đóng lại và
lực lượng canh gác được tăng
cường trước sự ngạc nhiên của các quân
nhân thường trực. Chi Đội Thiết Giáp bố
trí đằng sau tòa nhà chánh và 2 khẩu đại liên
đã sẳn sàng trên sân thượng.
-
Bãi đậu xe hai bên hông tòa nhà chánh, mỗi bên có 1 Tiểu
Đội Quân Cảnh túc trực. Tiểu Đội Quân
Cảnh thứ 3, tập trung an ninh tầng lầu 2, bên
cánh phải (tính từ trong tòa nhà chánh nhìn ra võ đình
trường), nơi đó là văn phòng Thiếu
Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng
Liên Quân, cũng là bản doanh của quí vị lãnh
đạo đảo chánh.
Trong
phòng Thiếu Tướng Khiêm, rất đông các vị
trong danh sách mời ăn trưa sau khi xong ở câu lạc
bộ, như: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung
Tướng Trần Văn Đôn,
Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng vì Đại
Tướng Lê Văn Tỵ đang dưỡng bệnh,
Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, cùng các vị
Tướng Tôn Thất Đính,
Trần Tử Oai, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, .....
Đại Tá Đỗ Mậu -Giám đốc Nha an ninh quân
đội- Đại Tá Dương Ngọc Lắm,
Đại Tá Nguyễn Văn Quan,......
Trong
khi đó, văn phòng tôi và văn phòng Trung Úy Có, các sĩ quan tùy viên và hạ
sĩ quan cận vệ, kẻ ngồi người
đứng chật cả phòng, vì mỗi vị
Tướng ít nhất cũng có 3 hay 4 người đi
theo, nhất là trong tình hình này.
Đúng
giờ G, tức 1 giờ trưa ngày 01 tháng 11 năm 1963.
Cửa
phòng họp số 1 đóng lại, 2 Quân Cảnh
đứng gác bên ngoài. So với danh sách "mời
họp" vẫn còn thiếu Đại Tá Hiền và
Đại Tá Quyền.
Hướng
Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống (góc
đường Thống Nhất-Cường
Để-Hồng Thập Tự) và khu vực Phủ
Tổng Thống -tức dinh Gia Long- súng bắt đầu
nổ.
Trong
văn phòng Thiếu Tướng Khiêm -bản doanh của
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng- âm thanh ồn ào
hẳn lên cùng với sự đi lại nhiều hơn,
do các vị điện thoại ra lệnh đơn
vị này cơ quan khác, chen lẫn với bàn thảo tình
hình.
Một
lúc sau đó, tôi vào trình Thiếu Tướng Khiêm:
-Thưa
Thiếu Tướng, tôi thấy giữ Đại Tá Viên
(Cao Văn Viên, Tư lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù)
dưới phòng họp không
tiện lắm. Xin Thiếu Tướng cho phép tôi
đưa Đại Tá Viên lên ngồi ở văn phòng tôi
và tôi chịu trách nhiệm -
-
Được rồi. Chú đưa Đại Tá Viên lên
phòng chú đi -
Tôi
quen biết chưa nhiều với Đại Tá Cao Văn
Viên, nhưng do bà Trần Thiện Khiêm nói lại, theo đó
thì Thiếu Tướng Khiêm, Thiếu Tướng Khánh, và
Đại Tá Viên rất thân nhau, nhất là khi ba vị này
là sĩ quan cấp úy và cùng chiến đấu ở
mặt trận Na Sản trên đất Lào trong hàng ngũ
quân đội Liên Hiệp Pháp. Và ba gia đình này cũng thân
nhau từ đó, vì có nhiều thời gian sống chung nhau
ở Hà Nội trong khi các ông cùng ở mặt trận. Do
đó, tôi thấy cần giúp Thiếu Tướng Khiêm tránh
điều khó xử đối với người
bạn thân của ông bằng cách "giải thoát"
Đại Tá Viên ra khỏi phòng "tạm giữ".
Nguyên nhân chỉ là vậy.
Đại
Tá Cao Văn Viên, năm 1960, đang giữ chức Tham
Mưu Trưởng Tham Mưu Biệt Bộ/Phủ
Tổng Thống, Lúc đó là Trung Tá. Ngay sau cuộc
đảo chánh ngày 11/11/1960, ông được thăng
cấp Đại Tá và
nhận chức Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù
đang khuyết, vì Đại Tá Nguyễn Chánh Thi đã
chạy sang Cam-Bốt tị nạn chính trị khi
đảo chánh thất bại. Cũng vì vậy mà ông (Đại
Tá Viên) bị xếp vào thành phần tín cẩn của
Tổng Thống Diệm, và bị giữ chân trong phòng
họp số 1 cách ly với cuộc đảo chánh
đang diễn tiến.
Đến
đây xin mở dấu ngoặc để nói thêm về
cựu Đại Tướng Cao Văn Viên. Cũng nhân
dịp dự tiệc cưới ngày 6/9/2003 nêu trên, tôi có
đến nhà thăm cựu Đại Tướng
Trần Thiện Khiêm, sau đó dùng cơm tối với
cựu Đại Tướng Cao Văn Viên tại nhà
người bạn. Cựu Đại Tướng Viên nói
rằng:
-
Những điều Anh (tức tôi) nói trong quyển sách
của Anh về tôi là đúng, nhưng có những
điều khác mà Anh chưa biết -
-
Rất đúng, thưa Đại Tướng. Tôi chỉ
viết lại những gì mà tôi biết thôi, cho nên câu
chuyện không tròn trịa được - Tôi trả
lời, và cựu Đại Tướng Viên nói tiếp:
- Trước khi Anh mời tôi lên
ngồi văn phòng Anh, có người xuống gọi tôi
lên văn phòng gặp ông Minh (tức Trung Tướng
Dương Văn Minh, cấp bậc lúc bấy giờ),
để nghe ổng nói là ổng đảo chánh Tổng
Thống Diệm, rồi ổng hỏi tôi nghĩ sao? Tôi
trả lời là chuyện lớnnhư vậy mà bây
giờ Trung Tướng mới nói với tôi thì tôi đâu
có quyết định được. Lúc ấy sĩ quan
tùy viên của ông Minh lăm le khẩu súng về phía tôi
như sẳn sàng bắn tôi. Tôi cũng nhắc lại
với Anh là trước đó, tôi với một ông
Đại Tá mà tôi giấu tên (theo tôi biết thì đó là
Đại Tá Lê Quang Tung, Chỉ Huy Trưởng Sở Khai
Thác Địa Hình, tên gọi ngụy trang của cơ quan
mật vụ) cùng gọi lên gặp Trung Tướng Minh,
nhưng vừa ra khỏi ‘phòng họp’ thì ổng bị
còng tay dẫn đi và đã bị giết sau đó. Còn tôi
cũng bị còng nhưng mới còng vào một tay thì
Thiếu Tướng Đính (Tôn Thất) chợt thấy,
ổng bảo tháo còng ra, và sĩ quan đó dẫn tôi lên
gặp ông Minh như tôi vừa nói. Tiếp đến
mới nối vào chuyện của Anh mời tôi lên ngồi
ở văn phòng Anh -
Xin
đóng ngoặc lại.
Khoảng
hơn 1 tiếng đồng hồ sau, điện
thoại reo:
-
Đại Úy Hoa tôi nghe -
-
Thưa Đại Úy, có Thiếu Tá Trần Cửu Thiên vô
phòng Tổng Quản Trị lãnh huy chương, và bây
giờ xin ra cổng - Đó là lời của trưởng
toán Quân Cảnh ở cổng số 1.
-
Anh chờ tôi đầu máy -
Tôi
vào trình Thiếu Tướng Khiêm nhưng Trung Tướng
Dương Văn Minh lạnh lùng:
-
Anh đem vô nhốt luôn cho tôi -
-
Vâng -
Xin
nói thêm. Tất cả các vị trong Hội Đồng Quân
Nhân Cách Mạng đều có mặt trong phòng Thiếu
Tướng Khiêm, nên mỗi khi tôi trình điều gì
với Thiếu Tướng Khiêm, các vị khác đều
nghe. Do vậy mà Trung Tướng Minh ra lệnh giữ
Thiếu Tá Thiên trong khi Thiếu Tướng Khiêm chưa có
phản ứng.
Một
lúc sau, tôi gặp Thiếu Tá Thiên trong phòng vệ sinh có Quân
Cảnh đi kèm, ông Thiên trừng mắt với tôi và không
nói một lời cho dù tôi chào ông đến hai lần.
Thiếu Tá Thiên rất được sự tín nhiệm
của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố
Vấn Ngô Đình Nhu sau khi Thiếu Tá Thiên được
đánh giá là xây dựng thành công "khu trù mật"
Vị Thanh-Hỏa Lựu thuộc tỉnh Phong Dinh (lúc
bấy giờ chưa thành lập tỉnh Chương
Thiện). Thiếu Tá Thiên là đảng viên đảng Cần
Lao Nhân Vị mà ông Cố Vấn Nhu là lãnh tụ. Vì vậy
mà Thiếu Tá Thiên -trong một chừng mực nào đó-
đã xem thường ngay cả với Đại Tá Khiêm
khi Đại Tá Khiêm đang là Tư Lệnh Sư Đoàn
21 Bộ Binh/kiêm Khu 33 Chiến Thuật, chỉ vì
Đại Tá Khiêm không phải là đảng viên, cũng
không phải là Thiên Chúa Giáo.
Lúc
3 giờ chiều:
-
Đại Úy Hoa tôi nghe -
-
Tôi là Hiền đây anh Hoa. Anh trình Thiếu Tướng xem
bây giờ tôi đến còn kịp họp không? -
-
Xin lỗi, Đại Tá đang ở đâu đó? -
-
Tôi đang ở bộ tư lệnh Không Quân -
Đấy
là Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư Lệnh Không
Quân.
-
Xin Đại Tá vui lòng chờ đầu máy, tôi vào trình ngay
-
Tương
tự như khi tôi trình với Thiếu Tướng Khiêm
về trường hợp Thiếu Tá Thiên, trình xong,
Thiếu Tướng Khiêm chưa có phản ứng thì Trung Tướng Minh ra lệnh:
-
Kêu qua nhốt luôn -
-
Vâng -
Tôi
báo cho Quân Cảnh phụ trách cổng số 1, mở
cổng, và hướng dẫn Đại Tá Hiền vào
phòng họp, gọi cho đúng là "phòng tạm
giữ".
Đến
lúc này thì điện thoại tôi reo liên hồi, hết ông
Tỉnh Trưởng này đến vị Tỉnh
Trưởng khác, hỏi thăm tình hình tại thủ
đô ra sao? Nhóm đảo chánh có những vị nào? Có
địa phương nào gọi về ủng hộ
chưa? Các vị tư lệnh Quân Đoàn Sư Đoàn có
ủng hộ không? ..v..v.. Tất cả những câu hỏi
chỉ nhằm mục đích tìm hiểu thêm tình hình,
để các vị ấy quyết định ủng
hộ Tổng Thống Ngô Đình Diệm hay ủng hộ
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Thế thôi. Do
vậy mới có thêm nhu cầu chuyển ngay các bản
văn của địa phương ủng hộ Hội
Đồng sang đài phát thanh Sài Gòn để loan tin
kịp thời. Thế là tôi có thêm đường giây
điện thoại trực tiếp với đài phát thanh
và hầu như tất cả những bản văn
ủng hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng
của nhiều vị Tỉnh Trưởng, đều do
tôi gợi ý. Và khi vị ấy đồng ý là tôi chuyển
đến đài phát thanh qua điện thoại luôn.
Nghĩa là từ lúc ông Tỉnh Trưởng đồng ý ủng
hộ đến khi loan tin trên làn sóng, chỉ trong vòng 3
đến 5 phút thôi.
Hể
có người ủng hộ thì cũng có người không
ủng hộ, đó là lẽ đương nhiên. Theo
lệnh Thiếu Tướng Khiêm, tôi chuyển đến
Truyền Tin: Hệ thống kiểm thính sẽ
"chận bắt" trên làn sóng vô tuyến, các công
điện gởi về Phủ Tổng Thống và trình
lên văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân ngay. Còn trên hệ thống điện thoại
viễn liên ngang qua tổng đài điện thoại
Cộng Hòa trong khuôn viên bộ Tổng Tham Mưu, phải
thu băng các cuộc đàm thoại, ghi chép lại và trình
lên vào mỗi đầu giờ.
Bây
giờ xin mời quí vị cùng tôi rời bộ Tổng
Tham Mưu để lên Biên Hòa, theo chân Sư Đoàn 5
Bộ Binh do Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu giữ
chức Tư Lệnh. Những thông tin về hoạt
động của Sư Đoàn này liên quan đến ngày
đảo chánh 1/11/1963, do Đại Tá Lộ công Danh
-năm 1963 là Thiếu Tá- trưởng phòng 3 Sư Đoàn 5
Bộ Binh, kể lại cho chúng tôi nghe vào năm 1981 khi
bị giam chung ở trại tù chính trị Nam Hà, tỉnh Hà
Nam Ninh, miền bắc Việt Nam. Chuyện kể như
thế này:
"Khoảng
trung tuần tháng 10/1963, Đại Tá Thiệu đã làm cho
bộ tham mưu Sư
Đoàn, nhất là các sĩ quan phòng 2 và 3 rất ngạc
nhiên. Lệnh hành quân ban hành trong thời gian thật
ngắn, bộ tham mưu phải vất vã lắm mới
thi hành xong những công tác tham mưu trong việc
điều động 1 Trung Đoàn Bộ Binh cùng với
Pháo Binh, Thiết Giáp, và Công Binh Chiến Đấu. Khi
tất cả sẳn sàng để sáng mai tấn công, thì
Đại Tá Thiệu ra lệnh ngưng cuộc hành quân này
và lập tức điều động lực
lượng sang vùng khác.
Tuần
lễ sau đó, lại chuẩn bị một cuộc hành
quân khẩn cấp để rồi đến giờ chót
lại thay đổi vùng hành quân, cũng là khẩn
cấp! Chính Phòng 2 -phụ
trách tình báo- cũng không hiểu vì sao lại chuyển vùng
hành quân mà Phòng 2 chưa ghi nhận sự hiện diện
một lực lượng nào của Việt Cộng
ở đó cả.
Ngày
30 và 31/10/1963, lại chuẩn bị hành quân vào căn
cứ địa Bời Lời. Đây là một căn
cứ quan trọng của quân cộng sản, cho nên
lực lượng tham dự gần 2 Trung Đoàn Bộ
Binh, 1 Tiểu Đoàn Pháo Binh, lực lượng Thiết
Giáp và Công Binh. Đêm 31 rạng ngày 1 tháng 11 năm 1963,
lệnh của Đại Tá Tư Lệnh là chuyển toàn
bộ các đơn vị xuống hành quân vùng Phước
Tuy (trên đường Sài Gòn-Vũng Tàu). Bộ tham mưu
muốn điên đầu vì những thay đổi mà chính
các sĩ quan trách nhiệm điều động và yểm
trợ hành quân, cũng không sao hiểu nổi.
Sáng
1/11/1963, các đơn vị, thay vì di chuyển về
hướng Vũng Tàu như lệnh hành quân đã
định, thì được lệnh dừng lại
ở ngã ba xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn-Vũng Tàu, chờ lệnh
mới.
Đến
1 giờ trưa, lệnh mới được ban hành: Theo
đó, các đơn vị chuyển hướng về Sài Gòn. Ngoài lực lượng
của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, còn có một lực
lượng Thiết Giáp xuất phát từ Trung Tâm Huấn
Luyện Vạn Kiếp (đồn trú ở Bà Rịa) cùng
tiến quân. Vào buổi chiều thì bản doanh Sư
Đoàn và 1 bộ chỉ huy Trung Đoàn đặt tại
trường đại học sư phạm, đại
lộ Cộng Hòa, trong khi lực lượng của Sư
Đoàn đã chiếm giữ các vị trí ấn
định trong phạm vi thủ đô Sài Gòn.
Lại
xin mời quí vị, chúng ta dành thêm chút thì giờ xuống
Quân Đoàn IV tại Cần Thơ, nhưng trước khi
xuống Cần Thơ, đến ngã ba Trung Lương
mời quí vị tạt vào Mỹ Tho quan sát Sư Đoàn 7 Bộ Binh tại
đây. Tư Lệnh Sư đoàn là Đại tá Bùi
Đình Đạm. Sư Đoàn phụ trách Khu 41Chiến
Thuật gồm 4 tỉnh bờ bắc Sông Tiền là
Kiến Hòa, Kiến Tường, Định Tường,
và Long An, gồm cả Đồng Tháp Mười. Vì
Đại Tá Đạm được xem là thành phần
tín cẩn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nên
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đưa
Đại Tá Nguyễn Hữu Có từ Sài Gòn xuống
Mỹ Tho, khống chế Đại Tá Đạm
để cầm chân Sư Đoàn tại chổ.
Xuống
thẳng Cần Thơ, bản doanh bộ tư lệnh
Quân Đoàn IV. Trung Tá Huỳnh Văn Tồn đã xuống bộ tư lệnh Quân
Đoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật, với nhiệm vụ
thuyết phục Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao
ủng hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng
nhưng không thành công, ông áp dụng biện pháp dự
liệu trước là uy hiếp Thiếu Tướng Cao
án binh bất động.
Năm
1962, Đại Tá Huỳnh Văn Cao là Tư Lệnh Sư
Đoàn 7 Bộ Binh tại Mỹ Tho, được
thăng cấp cấp Thiếu Tướng ngày 5/12/1962,
trước Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm
một ngày dù rằng hai Sắc Lệnh thăng cấp cùng
một ngày ký. Điều đó có nghĩa là Thiếu
Tướng Cao thâm niên hơn Thiếu Tướng Khiêm một ngày, và trong quân đội
vấn đề thâm niên là rất quan trọng về
mặt chỉ huy. Không có gì khó hiểu khi biết rằng
Thiếu Tướng Cao là đảng viên đảng
Cần Lao trong khi Thiếu Tướng Khiêm vừa là khác
tôn giáo vừa là người ngoài đảng.
Quân
Đoàn IV được thành lập ngày 1/1/1963, và Tổng
Thống Diệm cử Thiếu Tướng Cao giữ
chức Tư Lệnh Quân Đoàn này từ ngày ấy.
Xin
mời sang Sa Đéc tiếp xúc với Sư Đoàn 9
Bộ Binh. Đại Tá Bùi Dzinh, Tư Lệnh Sư
Đoàn và Trung Tá Đoàn văn Quảng, Tư Lệnh Phó
Sư Đoàn. Trung Tá Quảng trách nhiệm khống chế
Đại Tá Dzinh và giữ chân Sư Đoàn tại
chổ. Năm 1961 và 1962, Trung Tá Quảng là Tư Lệnh
Phó Sư Đoàn 21 Bộ Binh trong khi Đại Tá Trần
Thiện Khiêm là Tư Lệnh. Do vậy mà lệnh của
Thiếu Tướng Khiêm được Trung Tá Quảng
thi hành một cách tích cực. Nhưng theo cựu
Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, thì trách nhiệm
khống chế Đại Tá Bùi Dzinh án binh bất
động Sư Đoàn 9 Bộ Binh là do cựu
Đại Tá Nhan Minh Trang -lúc đó là Thiếu Tá- theo
lệnh Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng từ Sài Gòn
xuống Sa Đéc thi hành.
Đại
Tá Bùi Dzinh và Đại Tá Trần Thiện Khiêm cùng học
lớp "chỉ huy tham mưu" tại Hoa Kỳ
năm 1959, cùng trở về Việt Nam và cùng nhận
chức tại Sư Đoàn 21 Bộ Binh vào tháng 2/1960, khi
Trung Tá Trần Thanh Chiêu bị cách chức. Đại Tá
Khiêm Tư Lệnh, Đại Tá Bùi Dzinh Tư lệnh Phó
kiêm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn. Đại Tá Bùi
Dzinh, rất đượcTổng Thống Diệm và ông
Cố Vấn Nhu tín nhiệm. Sư Đoàn 9 Bộ Binh thành
lập tại Qui Nhơn, và Tổng Thống Diệm
cử ông vào chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn này.
Sau đó, Sư Đoàn 9 Bộ Binh được lệnh
chuyển toàn bộ vào hoạt động vùng đồng
bằng sông Cửu Long.
Bây
giờ xin mời quí vị trở về Bộ Tổng
Tham Mưu.
Trước
5 giờ một chút, tôi trình nhắc Thiếu Tướng
Khiêm về trường hợp Đại Tá Quyền
-Tư Lệnh Hải Quân- Thiếu Tướng Khiêm cho
biết là Đại Tá Quyền đã bị sĩ quan tùy
viên của ổng bắn
chết trên Thủ Đức rồi.
Lúc
5 giờ chiều:
-
Đại Úy Hoa tôi nghe -
-
Chào anh Hoa. Tôi là Đại Úy Bằng đây. Anh mời
Thiếu Tướng Khiêm tiếp chuyện với Tổng
Thống -
Đại
Úy Bằng là sĩ quan tùy viên tín cẩn của Tổng
Thống Diệm, thường trực ở văn phòng
Phủ Tổng Thống.
-
Vâng. Anh chờ tôi đầu máy -
Tôi
vào trình Thiếu Tướng Khiêm và nhấc ống nói trao
cho ông:
-
Mời Thiếu Tướng tiếp chuyện với
Tổng Thống -
Thiếu
Tướng Khiêm chưa kịp nhận ống nói thì Trung
Tướng Minh chụp lấy ngay. Tôi không nghe Tổng
Thống Diệm nói gì mà chỉ nghe Trung Tướng Minh:
-
Chúng tôi chỉ chấp nhận cho ông đi ngoại
quốc như một người bình thường -
-
........................
-
Không -
Tiếp
đó, Trung Tướng Minh nói với các vị có mặt
trong phòng Thiếu Tướng Khiêm sau khi ông dằn ống
nói xuống vị trí:
-
Ổng đòi đi như một Tổng Thống, tôi không
đồng ý -
Lúc
đó trong phòng im phăng phắc, chừng như cách
giải quyết của Trung Tướng Minh đem lại
niềm suy nghĩ cho các vị ấy thì phải. Tôi nhìn vào
thái độ của các vị mà nghĩ như vậy.
Điện
thoại lại reo và đầu giây bên kia vẫn là
Đại Úy Bằng mời Thiếu Tướng Khiêm
tiếp chuyện với Tổng Thống. Tôi lại vào:
-
Trình Thiếu Tướng, Tổng Thống muốn nói
chuyện với Thiếu Tướng -
Cũng
như lúc nảy, Trung Tướng Minh chụp ống nói
lên và đặt xuống máy:
-
Không cần nói chuyện với ổng -
Tôi
trở ra phòng và trả lời Đại Úy Bằng:
-
Rất tiếc là Trung Tướng Minh cắt
đường giây rồi. Chào anh
-
Khoảng
6 giờ chiều. Một buổi họp ngay trong phòng
Thiếu Tướng Khiêm, cũng là bản doanh của
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Ngoài các vị có
mặt ở đây từ lúc trưa, tôi thấy có thêm Trung
Tá Mai của Không Quân (dường như là Đỗ Khắc
Mai) mà mấy phút trước đây Quân Cảnh cổng
số 1 điện thoại cho tôi biết. Buổi họp
ngắn gọn này quyết định: "Không Quân
phải chuẩn bị càng nhiều phi tuần khu trục
càng tốt, nếu đến 7 giờ sáng mai (2/11/1963) mà
Tổng Thống Diệm chưa đầu hàng thì đánh
bom xuống dinh Gia Long trong khi Thủy Quân Lục Chiến
và Thiết Giáp sẳn sàng xung phong sau khi Không Quân đánh bom
xong".
Phải
nói rằng, lúc bấy giờ trên nét mặt của các
vị biểu hiện ít nhiều lo âu, bởi bên
đảo chánh với dấu hiệu thành công chưa
nhiều, trong khi bên bị đảo chánh cũng chưa có
dấu hiệu gì nhiều về sự thất bại, tuy
chưa có vị Tư Lệnh đại đơn vị
nào lên tiếng ủng hộ Tổng Thống.
Thiếu
Tướng Đỗ cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn
I/Vùng I Chiến Thuật
ở Đà Nẳng, đã có công điện ủng
hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng ngay từ
đầu. Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Tư
Lệnh Quân Đoàn II/Vùng II Chiến Thuật ở Plei Ku,
có thể là lúc đầu còn chần chừ nhưng
đến đêm thì có công điện ủng hộ
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Thật sự
nếu ông có chần chừ cũng đúng thôi, vì dù sao thì
ông cũng được Tổng Thống Ngô Đình
Diệm tín nhiệm khi đưa ông từ Tư Lệnh
Quân Khu 5 về giữ chức Tham Mưu Trưởng/Tổng
Tham Mưu, và trong cuộc đảo chánh của
Đại Tá Nguyễn Chánh Thi ngày 11/11/1960, Thiếu
Tướng Nguyễn Khánh hoàn toàn ủng hộ Tổng
Thống. Đến Quân Đoàn III/Vùng III Chiến Thuật
là Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, đang trong thành
phần Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng rồi. Còn
Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao đang bị
khống chế tại bộ tư lệnh Quân Đoàn
IV/Vùng IV Chiến Thuật. Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền,
Tư Lệnh Không Quân, và Đại Tá Cao Văn Viên, Tư
Lệnh Nhẩy Dù, đang bị giữ tại tòa nhà chánh.
Đại Tá Hồ Tấn Quyền đã bị giết
lúc trưa. Đại Tá Lê Quang Tung, Chỉ Huy Trưởng
Sở Khai Thác Địa Hình -cơ quan mật vụ
của ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu- cũng bị
giết rồi.
Xem
chừng Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu,
lần này không có nhiều cơ may như lần bị
Đại Tá Nguyễn Chánh Thi đảo chánh cách đây 2
năm, nhưng dù sao thì Hội Đồng Quân Nhân Cách
Mạng cũng chưa đủ yếu tố để
lạc quan về sự thành công của mình. Có lẽ
cũng vì vậy mà Thiếu Tướng Khiêm bảo tôi
đích thân lái xe về nhà đón vợ và 2 con ông,
đưa đến nhà riêng của Thiếu Tướng
Lê Văn Kim trên đường Võ Di Nguy, gần khu nghĩa
trang giáp ranh với cổng số 3 của bộ Tổng
Tham Mưu, tạm vắng mặt tại nhà. Khu này
tương đối vắng vẻ. Khi xe trên
đường đến nhà Thiếu Tướng Kim, bà
Khiêm hỏi tôi:
-
Chú Hoa, chú biết ai làm đảo chánh không? -
-
Dạ biết. Nhiều vị lắm, có Trung Tướng
Minh, Trung Tướng Đôn, Thiếu Tướng Đính,
Thiếu Tướng Kim, Thiếu Tướng Xuân, ....
đông lắm -
-
Nếu có ai hỏi thì chú đừng nói có "nhà tôi"
nghe chú -
-
Vâng.
Thật
ra thì Thiếu Tướng Khiêm không cho gia đình biết
những gì mà ông và các vị khác cùng làm, cho nên bà ấy
tỏ ra âu lo dự phòng của người đàn bà bình
thường vậy thôi.
Trở
lại tình hình tại văn phòng, và lúc này vào khoảng
giữa đêm.
-
Đại Úy Hoa tôi nghe -
-
Trung Tá Minh đây em -
Đấy
là Trung Tá Nguyễn Văn Minh mà các bạn ông thường
gọi là "Minh đờn", Tỉnh Trưởng
tỉnh An Giang. Là một vị Tỉnh Trưởng
rất được lòng Tổng Thống và ông Cố
Vấn. Tôi quen biết với Trung Tá Minh nhiều là trong
thời gian tôi giữ chức chánh văn phòng Tư
Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh tại Cần Thơ.
Trung Tá Minh có tiếng là sĩ quan xử sự rất khéo
với cấp trên và "chơi ngọt" với
cấp dưới nếu như cấp dưới đó
là thân cận với cấp trên của ông. Dạo đó,
cứ mỗi khi ông xuống Cần Thơ là y như
rằng, ông ghé cho tôi tí tiền còm kèm theo câu "em cầm
lấy uống cà phê chơi" mà tôi có bao giờ uống
cà phê đâu.
-
Thưa Trung Tá, dường như Trung Tá chưa có công
điện ủng hộ Hội Đồng phải không?
-
-
Tình hình đến giờ ra sao rồi em? -
-
Trung Tá theo dõi đài phát thanh thì rõ vì tất cả những
thông tin đó là chính xác. Bây giờ tôi thử đọc
bản văn ủng hộ Trung Tá nghe, nếu Trung Tá
đồng ý thì tôi chuyển sang đài phát thanh ngay, chỉ
vài phút sau đó là Trung Tá nghe công điện ủng hộ
của Trung Tá và tỉnh An Giang phát đi trên làn sóng đài
Sài Gòn ngay-
Thế
là tôi đọc bản văn luôn, và Trung Tá Minh đồng
ý ủng hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.
Đến
khoảng 3 giờ sáng (2/11/1963), Truyền Tin mang vào công
điện của ông Tỉnh Trưởng Lâm Đồng
(nay là ấn bản lần thứ 4 mà tôi vẫn không
nhớ tên ông). Công điện này gởi Phủ Tổng
Thống với nội dung "... Quân Dân Cán Chánh tỉnh
Lâm Đồng nguyện ủng hộ Tổng Thống và
gia đình, chống lại cuộc đảo chánh của
bọn phản loạn .."
Tôi
mang vào trình Thiếu Tướng Khiêm. Xem xong, ông trao cho Trung
Tướng Minh, lướt qua nội dung, ông lại
đưa cho Thiếu Tướng Đính và kèm theo khẩu
lệnh:
-
"Toa" kiếm người thay thằng này đi -
Sở dĩ Trung Tướng Minh trao cho Thiếu
Tướng Đính vì tỉnh Lâm Đồng thuộc Quân
Đoàn III/Vùng III Chiến Thuật mà Thiếu Tướng
Đính đang là Tư Lệnh.
Vài
ngày sau đó, ông Tỉnh Trưởng Lâm Đồng,
người gởi công điện nói trên, sau khi từ
văn phòng Trung Tướng Khiêm (Thiếu Tướng Khiêm
thăng cấp Trung Tướng chiều 2.11.1963) trở
ra, ông hỏi tôi với vẻ khó chịu:
-
Tôi có gởi công điện ủng hộ Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng mà tại sao tôi bị cách chức.
Anh có biết lý do không?
-
Dạ không Thiếu Tá, vì tôi đâu có phải người
quyết định mà biết lý do. Nhưng tôi biết là
quí vị trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng có xem
công điện Thiếu Tá gởi về Phủ Tổng
Thống, do hệ thống Truyền Tin/Tổng Tham Mưu
"chận bắt" tất cả những làn sóng
như vậy - Ông ra về chẳng buồn chào trả
lại.
Thật
ra thì đến gần sáng ngày 2/11/1963, ông có công
điện ủng hộ Hội Đồng, nhưng
điều đó đã quá trễ. Trong cuộc sống,
biết nhận đúng thời cơ là tốt nhất, vì
hành động sớm quá hay muộn quá thường là
không mang lại kết quả tốt, đôi khi chuốc
lấy nguy hại là khác.
TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH
D ỆM BỊ GIẾT
Khoảng
5 giờ sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, điện thoại reo
trong khi tôi đang bận cuộc đàm thoại khác nên
Thiếu Tướng Khiêm nhấc ống nói sau mấy
lượt chuông reo, và qua cuộc nói chuyện ngắn
của Thiếu Tướng Khiêm với các vị có
mặt, tôi biết đầu giây bên kia là người thân
cận của Tổng Thống, nhưng chưa nghe nội
dung. Ngay tức thì, các vị gọi nhau vào họp thật
nhanh, tiếc là tôi ngồi phòng ngoài nên chỉ nghe lõm bõm mà
thôi dù rằng cửa ngăn giữa phòng tôi với phòng
Thiếu Tướng Khiêm mở thường xuyên từ
lúc 1 giờ trưa hôm qua. Do công việc đòi hỏi tôi ra
vào văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân một cách
nhanh chóng nên tôi phải sang ngồi ở phòng sĩ quan tùy
viên, vì phòng này khi mở cửa thì nhìn thẳng vào bàn
viết của Thiếu Tướng Khiêm, nơi đang là
bản doanh của Hội Đồng Quân Nhân cách Mạng.
Nghe Trung Tướng Dương Văn Minh ra lệnh, tôi
mới biết là một phái đoàn do Thiếu
Tướng Mai Hữu Xuân dẫn đầu sẽ vào nhà
thờ Cha Tam đón Tổng Thống Ngô Đình Diệm và
ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu về Bộ Tổng Tham
Mưu. Lúc ấy tôi trông thấy vài vị sĩ quan cấp
tá đi vô đi ra phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân,
nhưng không rõ những vị này có được cử
trong phái đoàn hay không.
Một
lúc sau, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm gọi
tôi:
-
Chú theo dõi khi đoàn xe đón Tổng Thống và ông Cố
Vấn về đến thì hướng dẫn xe
đậu ở sân vận động cạnh tòa nhà chánh,
cho Quân Cảnh gác chung quanh và không cho bất cứ ai
đến gần. Xong, chú lên trình tôi -
-
Vâng -
Trong
thời gian chờ đợi, các vị bàn thảo với
nhau chung quanh vấn đề cách giải quyết Tổng
Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu sao cho ổn vì
sợ phật lòng khối Thiên Chúa Giáo lẫn Phật Giáo.
Ngay lúc đó, ngoài cửa phòng tôi có một người xin
gặp tôi nói là ông được lệnh mang quần áo
đến đây để Tổng Thống và ông Cố
Vấn đi ngoại quốc. Tôi mời ngồi nhưng
thật ra tôi cũng không rõ lệnh này từ đâu. Tôi
ngờ rằng lệnh đó xuất phát từ Trung
Tướng Đôn vì ông là người hậu thuẫn
mạnh mẽ ý kiến đưa Tổng Thống
Diệm và ông Cố Vấn Nhu xuất ngoại,
được hiểu là "lưu vong". Trình xong
với Thiếu Tướng Khiêm thì tôi không theo dõi
được nữa vì phải xuống lầu đón
đoàn xe sắp vào cổng Bộ Tổng Tham Mưu.
Theo
hướng dẫn của tôi, chiếc Thiết Vận Xa
M113 vào vị trí, và một tiểu đội Quân Cảnh
bao quanh. Tôi trở lên văn phòng:
-
Trình Thiếu Tướng, Thiết Vận Xa chở
Tổng Thống và ông Cố Vấn đã vào sân vận
động và có Quân Cảnh bảo vệ -
-
Mình xuống đi - Đó là lời Trung Tướng
Dương Văn Minh. Nói xong là ông đứng lên trong khi
Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm nét mặt không
vui:
-
Các "toi" xuống đi, thấy ổng dù sao
"moi" cũng bùi ngùi! -
Tuy
nói vậy, nhưng khi các vị rời khỏi phòng thì
Thiếu Tướng Khiêm cũng từng bước theo
sau, và tôi là người tháp tùng sau cùng. Khi xuống
đến bậc thang chót của tầng trệt thì
Thiếu Tướng Khiêm đứng lại, vì các vị
đã dừng chân hành lang bên ngoài, lúc ấy có Thiếu
Tướng Xuân và một
sĩ quan nữa mà tôi không thấy rõ là vị nào, đang
trình bày gì đó với các vị. Bỗng các vị cùng quay
vào, Thiếu Tướng Khiêm có vẻ ngạc nhiên:
-
Việc gì vậy? -
-
Hai ổng chết rồi - Trung Tướng Minh trả
lời. Và tất cả cùng trở lên lầu.
Lúc
bấy giờ, người Mỹ, từ phòng nhỏ ngay
phía sau tấm vách ngăn với bàn làm việc của
Thiếu Tướng Khiêm bước ra, Trung tướng
Minh cho ông ta biết là ông Diệm và ông Nhu đã chết
rồi. Rõ ràng là người Mỹ này tỏ ra bực
tức, và một lúc sau ông ta ra về.
Người
Mỹ mà tôi vừa nói, tôi không biết tên. Ông ta có vóc dáng
trung bình, mặc thường phục, có mặt tại
phòng Thiếu Tướng Khiêm từ trưa hôm qua
(1/11/1963), nhưng ông ta chỉ ở trong phòng nhỏ đó
mà không bước ra phòng các vị Tướng lãnh trong
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng làm việc dù chỉ
cách vài bước đi. Ông ta có xách cái cặp bình
thường như những cái cặp mà các vị
Tướng Lãnh thường xách theo khi đi làm. Về sau
tôi nghe nói đó là Trung Tá Conein, cũng có người nói là
ông Lansdale. Tôi vẫn không xác định được là
ai, nhưng rõ ràng là cuộc đảo chánh lật đổ
Tổng Thống Diệm được một số
vị Tướng Lãnh Việt Nam thực hiện
dưới bàn tay đạo diễn của Hoa Kỳ hay ít
ra cũng được Hoa Kỳ đồng ý. Cho dù
thế nào đi nữa, chúng ta cũng nhận ra
được sự kiện ông Ngô Đình Diệm "lên
ngôi" là do Hoa Kỳ từ đằng sau, và cũng
bởi Hoa Kỳ mà ông Diệm bị "hạ
bệ". Nhưng liệu có phải Tổng Thống Hoa
Kỳ John F. Kennedy ra lệnh cho vị Tướng Lãnh nào
đó của đất nước Việt Nam khốn
khổ này giết chết Tổng Thống của họ
không? Hay cái chết của Tổng Thống Diệm không có
trong dự định của Hoa Kỳ khi họ buộc
phải thay người lãnh đạo Việt Nam cho phù
hợp với chiến lược đang thực
hiện? Ôi, chính trị!
Tôi
xin mở dấu ngoặc để viết vào đoạn
này những lời mà cựu Đại Tướng
Trần Thiện Khiêm cho tôi biết vào tối 21/10/2003, liên
quan đến cuộc đảo chánh ngày 1//11/1963. Ông nói:
-
Về việc chú thắc mắc không biết người
Mỹ tham dự đảo chánh là ông Conein hay Lansdale, Anh cho
chú biết đó là Trung Tá Conein, ổng cũng cùng nhóm
với ông Lansdale. Anh nói thêm với chú, ông Conein là
trưởng toán sĩ quan Hoa Kỳ đã từng nhẩy
dù xuống miền Bắc hồi năm 1945 để giúp
ông Hồ đánh Nhật. Lúc đó ai là kẻ thù của Nhật
là bạn của Hoa Kỳ. Về phía Hoa Kỳ, ông ta là
người biết nhiều về ông Hồ và Việt
Minh cộng sản thời đó. Bây giờ Anh nói về
cuộc đảo chánh (1/11/1963). Trước ngày
đảo chánh, Anh (tức cựu Đại Tướng
Khiêm) nói như một điều kiện liên quan
đến Tổng Thống Diệm rằng: ‘phải
để Tổng Thống bình yên và xuất ngoại’. Lúc
đó Trung Tướng Dương Văn Minh đồng ý,
Thiếu Tướng Lê Văn Kim cũng đồng ý.
Sở dĩ Anh nói Trung Tướng Minh và Thiếu
Tướng Kim, vì hai ông này là hai nhóm riêng chớ không
phải là một nhóm đâu nghe chú. Khi biết ông Diệm
bị giết cùng với ông Nhu, Đại Tá Quyền
(Hồ Tấn Quyền) bị giết, Đại Tá Tung
(Lê Quang Tung) cũng bị giết, đến em của ông
Tung là Lê Quang Triệu cũng bị lừa rồi giết
chết. Ông Viên (Cao Văn Viên) thì bị còng tay. Họ hành
động lén nên Anh với chú ngồi trên lầu có hay
biết gì đâu. Mấy ổng ngồi bên phòng của
Đại Tướng Tỵ (Lê Văn Tỵ. Lúc ấy
Đại Tướng Tỵ dưỡng bệnh ngoài
Vũng Tàu, Trung Tướng Trần Văn Đôn Quyền
Tổng Tham Mưu Trưởng) rồi quyết
định với nhau - Ngưng một chút, ông tiếp:
- Chú thấy chưa? Nhóm ông Minh
với nhóm ông Kim độc ác quá! Ông Diệm gọi
điện thoại bảo cho xe đến đón, tức
là ổng đầu hàng rồi, tại sao lại giết
người đầu hàng? Trước đó, ông Minh ông Kim đồng ý với
Anh là để ông Diệm bình yên và lưu vong, tại sao
lại giết? Cho nên từ đó Anh bất mãn với ông
Minh ông Kim -
(Tôi
nghĩ: có lẽ vì sự chia phe chia nhóm này mà khi cử Trung
Tướng Trần Thiện Khiêm đi Seoul, Đại
Hàn, dự lễ nhậm chức của Tổng Thống
Pak Chung Hi (Phác Chánh Hi), để rồi ra quyết
định cử Trung Tướng Khiêm giữ chức
Tư Lệnh Quân Đoàn 3 khi Trung Tướng Khiêm còn
ở Tokyo chăng?)
Cựu
Đại Tướng Khiêm nói tiếp:
-
Có điều là Anh không rõ tại sao Hoa Kỳ loại
Tổng Thống Diệm? -
-
Thưa Anh, có lúc Em nghĩ: phải chăng Tổng
Thống Diệm không đồng ý cho quân bộ chiến
Hoa Kỳ lập căn cứ trên đất Việt Nam
trong chiến lược Domino làm bức tườnquân
sự ngăn chận cộng sản tràn xuống Đông
Nam Á mà Tổng Thống Diệm bị loại
chăng?-
-
Điều này Anh có nghĩ đến, nhưng không
biết có còn gì nữa không? Còn việc chú nêu nghi vấn
Trung Tướng Minh có phải là người ra lệnh
giết ông Diệm ông Nhu không, chú nghĩ coi nếu hổng
phải ổng thì ai dám ra lệnh đó -
-
Tất nhiên là em nghĩ như vậy, nhưng đây là
vấn đề lịch sử, khi em chưa nắm
được bằng chứng xác thực về
điều em đã nghĩ, thì em không dám khẳng
định mà chỉ nêu nghi vấn sau khi phân tách một
số sự kiện liên quan thôi. Chính Trung Tướng
Trần Văn Đôn trong quyển Việt Nam Nhân Chứng,
cũng nêu nghi vấn như vậy Anh Tư. (bà Khiêm
thứ tư nên những cộng sự viên chung quanh
thường gọi như vậy) -
Những
điều mà cựu Đại Tướng Khiêm nói không
phải chỉ có thế, và tôi sẽ bổ túc vào những
bài những đoạn liên quan trong cuộc chỉnh lý ngày
30/1/1964, cuộc ‘biểu dương lực lượng’
ngày 13/9/1964 dẫn đến sự kiện ông và gia
đình lưu vong, đến cuộc đảo chánh ngày
19/2/1965 dẫn đến sự kiện Đại
Tướng Nguyễn Khánh lưu vong sang Hoa Kỳ tá túc nhà
Đại Tướng Khiêm.
Xin
đóng ngoặc.
Và
liệu nguyên nhân chính dẫn đến cuộc đảo
chánh này là do kế hoạch của chánh phủ Hoa Kỳ,
hay bắt nguồn từ chính sách đàn áp Phật Giáo
của Tổng Thống Ngô Đình Diệm? Tôi nghĩ,
nếu không có sự kiện đàn áp Phật Giáo thì Hoa
Kỳ cũng bằng cách nào đó để thực
hiện cuộc lật đổ, vì nếu không thì mục
tiêu thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ
Việt Nam Cộng Hòa không thực hiện được,
và như vậy có nghĩa là một "mắt xích"
trong chiến lược Domino của họ không hoàn
thành.
Phải
chăng sự mâu thuẩn giữa chánh phủ với
Phật giáo ngày càng tệ hại, lại là cơ hội
thuận lợi cho Hoa Kỳ nhập cuộc theo cách
của họ? Và cho dù thế nào đi nữa, rõ ràng là
họ đã thành công.
Giả
thuyết rằng, nếu cuộc đảo chánh không
phải bắt nguồn từ Hoa Kỳ, thì liệu quí
vị Tướng Lãnh Việt Nam có tự mình quyết
định đảo chánh để đem lại sự
bình đẳng giữa hai tôn giáo lớn nói riêng, và ổn
định tình hình nội bộ nói chung không? Tôi nghĩ,
chắc là không. Vì thực hiện một cuộc
đảo chánh, đã khó, nhưng được hay không
được Hoa Kỳ ủng hộ là điều khó
hơn, vì cho dù có thành công mà
không được Hoa Kỳ ủng hộ thì sớm
muộn gì cũng bị đồng đội lật
đổ. Còn nữa, nếu lật đổ thành công
rồi, mà chưa chuẩn bị một sách lược
lãnh đạo vừa chống cộng sản vừa xây
dựng quốc gia, thì quí vị cầm quyền sẽ
bị bối rối với những kế hoạch vá víu
trong khi tình hình đòi hỏi mục tiêu và đường
lối thực hiện phải rõ rệt, dứt khoát, và
thực hiện ngay.
Vị
Tướng nào đã ra lệnh giết Tổng Thống
Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, và ai là
người xuống tay giết hai ông? Hoặc giả là so
dự nhầm lẫn nào đó giữa người ra
lệnh với người nhận lệnh? Theo bác sĩ
Huỳnh Văn Hưởn, Y Sĩ trưởng bệnh xá
Tổng tham Mưu lúc ấy (về sau có lúc là Tổng
Trưởng Y Tế), người phụ trách khám
nghiệm và lau vết thương cho hai ông, thì cả hai
ông vừa bị bắn vừa bị đâm bằng
lưỡi lê. Hai trong số ít người liên quan trực
tiếp đến cái chết của ông Diệm và ông Nhu là
Trung Tướng Mai Hữu Xuân và Thiếu Tá (đã thăng
cấp) Nguyễn Văn Nhung, cả hai đã chết
rồi. Chỉ còn lại cựu Đại Tướng
Dương Văn Minh và cựu Đại tá Dương
Hiếu Nghĩa, là hai vị có tiếng nói chính xác hơn
hết. Chữ "trực tiếp" mà tôi dùng ở
đây có nghĩa là người ra lệnh giết, người
giết, hoặc người nghe thấy người ra
lệnh hay trông thấy người giết. Và liệu
cựu Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp có thể là nhân
chứng chính xác nữa trong vụ này không?
Xin
mở dấu ngoặc. Tôi bổ túc bài này vào tháng 10 năm
2003, thì cựu Đại
Tướng Dương Văn Minh đã từ trần
trước đó mấy tháng. Vậy, nhân chứng còn
lại là cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa.
Xin đóng ngoặc lại.
Nếu
như Trung Tướng Dương Văn Minh ra lệnh
giết thì tại sao khi tôi trình đoàn xe đón Tổng
Thống và Cố Vấn về đến, ông lại
gọi các vị có mặt cùng xuống gặp hai vị
ấy, vì chính ông phải biết việc gì xảy ra
rồi chớ? Hoặc cũng có thể là Trung
Tướng Minh đã ra lệnh giết nhưng vẫn ra vẻ như không hay
biết gì về cái chết của hai ông ấy? Chính
trị mà! Trong số các vị có mặt trong phòng Thiếu
Tướng Khiêm, tôi không trông thấy nét mặt, cử
chỉ, hay thái độ của vị nào biểu lộ
một chút gì khác thường giữa các vị với nhau
trước khi lần lượt bước xuống
thang lầu để gặp Tổng Thống Ngô Đình
Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Hoặc là không ai
ra lệnh giết, hoặc là vị nào đó quá kín đáo
chăng?
Tôi
được biết là khi đoàn xe rời nhà thờ Cha
Tam trở về Bộ Tổng Tham Mưu trên chiếc M113
chở ông Diệm và ông Nhu chỉ có Đại Úy Nguyễn
Văn Nhung và vài quân nhân trách nhiệm trên chiếc Thiết
Vận Xa này, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa
ngồi xe Jeep cùng với Đại Úy Phan Hòa Hiệp
(cấp bậc trong lúc đảo chánh). Chính Đại Úy
Hiệp nói như vậy. Sở dĩ tôi nói đến
Thiếu Tá Nghĩa là vì có dư luận cho rằng
Thiếu Tá Nghĩa cùng ngồi trên chiếc Thiết
Vận Xa M113 với Đại Úy Nhung.
Nếu
thật sự Thiếu Tá Nghĩa cùng ngồi trên chiếc
Jeep với Đại Úy Hiệp, điều đó cũng
chưa đủ yếu tố để loại trừ
giả thuyết Thiếu Tá Nghĩa không phải là sát
thủ, vì có lúc đoàn xe phải dừng trước
cổng xe lửa chắn ngang đường khi xe lửa
chạy qua. Đó là khoảng thời gian tuy ngắn
ngủi nhưng cũng đủ cho một sát thủ ra
tay. Nhưng cũng không thể căn cứ vào đây mà cho
rằng Thiếu Tá Nghĩa là một trong hai sĩ quan
đã giết Tổng Thống
Diệm và ông Cố Vấn Nhu, vì Thiếu Tá Nghĩa
là một sĩ quan bộc trực, thẳng tính, rất
nhiệt tâm với nhiệm vụ trong binh chủng
Thiết Giáp, và chưa hề có tai tiếng gì trước
biến cố chính trị này. Đồng ý rằng,
Thiếu Tá Nghĩa là một sĩ quan rất can
đảm, và khi lâm trận thì vị chỉ huy này không
nương tay với kẻ thù, nhưng giết một
người không phải là kẻ thù mà người đó
lại là một Tổng Thống hay Cố Vấn của
Tổng Thống, thì điều đó không phải là
điều mà Thiếu Tá Nghĩa hành động như một
sát thủ. Nhưng những lý lẽ trên đây cũng
chưa đủ để loại trừ giả
thuyết "Thiếu Tá Nghĩa là một trong hai sĩ
quan thi hành lệnh giết Tổng Thống Diệm và ông
Cố Vấn Nhu". Và đối với tôi, Thiếu Tá
Nghĩa vẫn là một nghi vấn nhưng mức
độ thấp hơn nghi vấn đối với
Đại Úy Nhung.
Đối
với Đại Úy Nhung. Chính xác là Đại Úy Nhung
ngồi trên chiếc thiết vận xa M113 chở Tổng
Thống và Cố Vấn. Đại úy Nhung, ít ra là hai
lần trước biến cố chính trị này, anh khoe
với tôi rằng, mỗi lần anh giết một
người thì anh khắc lên báng súng của anh một vạch.
Anh đưa báng súng cho tôi xem, lúc ấy có năm vạch
khắc theo chiều thẳng đứng ở bên trái báng
súng. Căn cứ vào lời nói và dấu tích trên báng súng, tôi
cho rằng Đại Úy Nhung là một sĩ quan đã
từng giết người nếu không nói là thông thạo
thì cũng là quen tay. Xin nói thêm, hành động giết
người và hành động bắn chết địch
quân ở chiến trường là hai hành động khác
nhau. Nhưng như vậy
cũng chưa thể kết luận Đại Úy Nhung là
sát thủ trong trường hợp này, vì không trông thấy
tận mắt và cũng không nghe chính Đại Úy Nhung
tự nói về sự kiện đó.
Nhìn
vào khía cạnh khác, tôi có nghi vấn cao nhất về
Đại Úy Nguyễn Văn Nhung với cái chết
của Tổng Thống Diệm và Cố Vấn Nhu.
Đại úy Nhung là sĩ quan tùy viên của Trung
Tướng Dương Văn Minh, mà tùy viên thì luôn luôn có
mặt bên cạnh vị Tướng của mình. Trong
trường hợp này, Thiếu Tướng Mai Hữu
Xuân cùng đoàn tùy tùng có nhiệm vụ đến nhà
thờ Cha Tam (trong Chợ Lớn) đón Tổng Thống
Diệm và Cố Vấn Nhu về Bộ Tổng Tham
Mưu, Đại Úy Nhung không có lý do gì để có mặt
trong thành phần này cả. Nếu cho rằng, Đại
úy Nhung tự ý tháp tùng để sau này khoe với bạn bè
là anh đã góp phần trên đoàn xe lịch sử đó
đi nữa thì tại sao Đại Úy Nhung -và chỉ
một mình Đại úy Nhung- được ngồi trên
chiếc Thiết Vận Xa M113 chở Tổng Thống
Diệm và ông Cố Vấn Nhu? Sự kiện này phải
được Thiếu Tướng Xuân chỉ
định hay ít ra cũng là đồng ý. Và liệu có
phải Thiếu Tướng Xuân tự mình ra lệnh cho
Đại Úy Nhung hay là thi hành theo lệnh của Trung
Tướng Minh? Tôi nói như vậy vì chỉ có Trung
tướng Minh -người đứng đầu nhóm
lãnh đạo đảo chánh- mới có thẩm quyền
ra lệnh cho Thiếu Tướng Xuân mà thôi. Với
lại Đại Úy Nhung là sĩ quan tùy viên của Trung
Tướng Minh thì không vị Tướng nào dám sử
dụng Đại Úy Nhung trong nhiệm vụ giết
Tổng Thống và Cố Vấn được. Vậy, Đại
Úy Nhung có mặt trong đoàn xe "lịch sử" này và
một mình ngồi trong xe chở Tổng Thống Diệm
và ông Cố Vấn Nhu, phần chắc phải là do
lệnh của Trung Tướng Dương Văn Minh.
Nếu
chính xác là Trung Tướng Minh ra lệnh cho sĩ quan tùy
viên của mình là một thành viên trong đoàn xe lịch
sử này thì lệnh đó có mục đích gì, chẳng
lẽ cho Đại Úy Nhung đi theo chơi? Nếu suy
như vậy nghe không ổn chút nào. Nhưng đến
đây cũng chưa thể quả quyết rằng
Đại Úy Nhung là người hạ sát Tổng Thống
Diệm và ông Cố Vấn Nhu bằng súng và lưỡi lê,
vì đây là vấn đề lịch sử nên không thể
kết luận thủ phạm khi chưa đủ
chứng cớ chính xác, mà đương sự đã chết
rồi. Thôi thì để anh yên nghỉ!
Đến
đây, tôi có câu chuyện ngắn. Hai mươi tám năm
sau, vào giữa tháng 11 năm 1991, tôi và một số bạn
có dịp dùng cơm tại nhà cựu Đại Tá
Nguyễn Linh Chiêu (Orange County, nam California) mà tôi
thường gọi ông là "đại ca", vì ông
lớn tuổi hơn tôi và thâm niên hơn tôi nhiều. Hôm
ấy "đại ca" tôi thuật lại câu
chuyện có liên quan
đến câu tự hỏi của tôi nêu trên. Chuyện
như thế này:
Đầu năm 1991, nhân
chuyến ông sang Paris dự lễ cưới của
vị Tướng đã một thời là Tổng Tham
Mưu Trưởng quân đội quốc gia Việt Nam
trong khuôn khổ quân đội Liên Hiệp Pháp,
"đại ca" tôi tổ chức bữa ăn thân
mật sau khi được cựu Đại
Tướng Dương văn Minh và cựu Trung
Tướng Trần văn Đôn nhận lời. Mục
đích của bữa ăn là anh Chiêu -bạn thân của
hai vị cựu Tướng Lãnh thực khách- muốn giúp
hai vị làm hòa nhau mà tình bạn giữa hai ông đã
rạn nứt từ sau cuộc đảo chánh 1/11/1963.
Theo anh Chiêu thì mục đích đã đạt được,
và trong không khí vui vẻ đó, anh có nêu câu hỏi với
cựu Đại Tướng Minh:
-
Anh có thể cho biết câu "mission accomplie" mà anh Xuân
(tức Thiếu Tướng
Mai Hữu Xuân) trình với anh hôm 2/11/1963 có nghĩa như
thế nào không? -
-
Nhiệm vụ hoàn thành thì báo cáo hoàn thành. Có vậy thôi -
Anh
Chiêu chưa chịu thua và hỏi lại, thì cựu
Đại Tướng Minh nói:
-
Anh hiểu sao thì hiểu -
Câu
trả lời "đúng là hiểu sao thì hiểu".
Hết
câu chuyện.
Cũng
vào cuối năm 1991, người bạn mới quen
của tôi ở San Jose, tiến sĩ sử học Hoàng
Ngọc Thành, lúc ấy đang viết cuốn
"Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô
Đình Diệm", tôi có cung cấp cho ông một số
dữ kiện cần thiết theo yêu cầu của ông. Ông
nói rằng, ông được đọc một tài
liệu mà cựu Đại Tướng Minh viết theo
lệnh của nhà cầm quyền cộng sản (sau tháng
4/1975), theo đó, cựu Đại Tướng Minh
nhận là ông đã ra lệnh giết Tổng Thống
Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Nghe thì nghe vậy nhưng
thật ra tôi cũng không hiểu là bằng cách nào mà ông
bạn tôi xem được tài liệu đó nữa.
Với tôi, những gì mà người chiến sĩ
chống cộng sản cho dù người đó là một
Tổng Thống hay một sĩ quan bình thường,
phải viết theo lệnh của cộng sản trong
trại tù hay tại cơ quan của chúng, và viết
dưới sự hướng dẫn của những tên
gọi là cán bộ Công An cho đến khi chúng chấp
nhận mà chúng gọi là "đạt yêu cầu", thì
không thể xem đó là chính xác được. Vì vậy mà
theo tôi, không nên căn cứ vào đó để kết
luận cựu Đại Tướng Dương Văn
Minh là người ra lệnh giết Tổng Thống
Diệm và ông Cố Vấn Nhu, cho dù ông có khai thật
với cộng sản cũng vậy. Nhưng dù thế nào
đi nữa, với tôi, cựu Đại Tướng
Minh vẫn là vị mà tôi đặt nghi vấn cao nhất về
người đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô
Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu.
Cuối
năm 1963, nhân đến nhà người bạn cùng khóa
với tôi để thăm một vị Tướng
trước kia phục vụ tại Phòng 7/Bộ Tổng
Tham Mưu, và nhân lúc câu chuyện xoay quanh cuộc
đảo chánh ngày 1/11/1963, bạn tôi nói rằng: "Tôi có
người bạn thân, trước kia thường
chơi quần vợt với Đại Tướng Minh,
một hôm Đại Tướng Minh có nói là trước
khi chết, ông để lại tập hồi ký cho các con
ông. Nếu đúng như vậy thì câu trả lời chính
xác chỉ có được khi cựu Đại
Tướng Minh an giấc ngàn thu chăng? Năm 2003, cựu Đại
Tướng Dương Văn Minh từ trần, nhưng
tôi không rõ là ông có để lại cuốn nhật ký
như lời bạn tôi đã nói hay không.
Đến
cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa,
định cư tại tiểu bang Washington. Theo tôi, anh
Nghĩa là một trong những nhân chứng trong cuộc
đảo chánh ngày 1/11/1963 nói chung, và có thể là nhân
chứng duy nhất trong vụ giết Tổng Thống
Diệm và ông Cố Vấn Nhu nói riêng. Tôi với anh là
bạn thân từ năm 1961 khi anh đang là Quận
Trưởng quận Bình Minh tỉnh Vĩnh Long. Khi vào tù,
chúng tôi bị giam chung buồng trong trại tù giữa
rừng già Yên Bái, ăn chung mâm, ngủ sát cạnh nhau trrong
nhiều năm liền. Có những lúc nhắc đến
ngày 1/11/1963, tôi cố gắng tìm hiểu những nghi
vấn về cái chết của ông Diệm và ông Nhu,
nhưng không bao giờ anh hé môi nửa lời về
điều đó.
Tôi
biết anh Nghĩa có nói với Trung úy Đồng, Phòng 3
Tiểu khu Vĩnh Long khi anh là Tỉnh Trưởng
tỉnh này, theo đó, "anh biết người giết
ông Diệm và ông Nhu, nhưng chưa thể nói
được". Tôi tin lời anh Nghĩa, nhưng không
biết là lúc nào anh mới nói được. Bởi vì
chưa thể nói được, có nghĩa là sẽ nói
chớ không phải không nói.
Dưới
đây là bài viết của cựu Đại Tá
Dương Hiếu Nghĩa, anh gởi tặng tôi một
bản do cựu Đại Tá Nhan Minh Trang trao lại.
Được sự đồng ý của anh Nghĩa qua
đường giây điện thoại vào đầu tháng
11/1998, tôi xin trích phần liên hệ đến cái chết
của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố
Vấn Ngô Đình Nhu đưa vào ấn bản lần
thứ 3 năm 1998. Với hy vọng phần trích
đăng này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những
tin tức về cái chết có tầm vóc lịch sử
của hai vị lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa,
đã một thời tạo nên tiếng vang quốc
nội lẫn quốc tế trong những năm 50 và 60,
Tiếng vang tốt hay không tốt, hoặc cả hai,
điều đó tùy quí độc giả.
Phần
trích thuật bắt đầu
"Tôi có dịp đến
Houston khoảng tháng 7/1995, được người
bạn tặng cuốn "Đôi Dòng Ghi Nhớ"
của anh Phạm Bá Hoa, cựu Đại Tá Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa. Không như "Lời Trần
Tình" quá khiêm nhường của anh, quyển sách tuy
không chánh thức là một sử liệu, nhưng nó
đóng góp rất nhiều cho các sử gia, vì anh
được ở vào một vị trí rất quan
trọng trong guồng máy hành chánh và quân sự trong một
giai đoạn lịch sử 1960-1968. Những sự
việc mà anh ghi lại thật là trung thực, rất
đầy đủ từng chi tiết, cũng như anh
đã phân tách sự việc rất vô tư, khách quan. Trong
quyển sách, anh nói không ít về cái chết của Tổng
Thống Ngô Đình Diệm".
"Về
sự việc lịch sử này, đã có rất nhiều
người hỏi tôi từ sau ngày 2/11/1963 cho tới
giờ này (kể cả người Mỹ). Ai cũng
muốn biết rõ chi tiết của sự việc đã
xảy ra trên chiếc Thiết Vận Xa trong đoàn xe mà cá
nhân tôi có trách nhiệm an ninh hộ tống hôm đó. Tác
giả quyển "Đôi Dòng Ghi Nhớ" chỉ nêu lên
một số dữ kiện, một số suy luận,
một số giả thuyết, và nghi vấn chung quanh
sự việc nói trên, mà không hề có ý xác quyết ai là
người đã ra lệnh và ai là người đã thi
hành lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và
ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Đây là điểm hoàn toàn
khác biệt với một vài quyển hồi ký khác đã
được xuất bản mà tôi có dịp
đọc".
"Liên
quan đến sự việc này, tôi muốn nói đến
vài quyển hồi ký mà tác giả đã có nhận xét
thiếu chính xác, có khi còn sai lạc hẳn. Sự việc
cũng không được phân tách cho đúng lý đúng tình.
Có tác giả đã kể lại sự việc mà chính
mắt tác giả không mục kích được, tai
cũng chỉ nghe lõm bõm diễn tiến mà người
thuật cũng không phải người trong cuộc.
Hoặc là viết theo một số dữ kiện do quá
nhiều người thuật lại theo cái nghe
được hay theo lập luận một chiều.
Đặc biệt là cựu Trung Tướng Nguyễn
Chánh Thi, tác giả " Việt Nam, Một Trời Tâm
Sự", ông đã dựa trên lời khai nguyên văn
của Đại Úy Nguyễn Văn Nhung (đúng ra là
Thiếu tá) mà ông được đọc sau ngày
"Chỉnh Lý 30/1/1964", nên sự việc đó ông
viết rất chính xác. Nói rất rõ là ai thi hành lệnh
giết Tổng Thống và giết bằng cách nào..."
"Sáng
ngày 2/11/1963, Trung Tướng Dương Văn Minh chỉ
định Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân và
Đại tá Dương ngọc Lắm, vào nhà thờ Cha
Tam trong Chợ Lớn "đón họ" về đây
(Họ, tức Tổng Thống Diệm và ông Cố
Vấn Nhu. Về đây, tức về Bộ Tổng Tham
Mưu). Tôi có mặt tại chổ, vì tôi cùng Trung
Đội Thiết Vận Xa vừa từ dinh Gia Long
về tới, và trình Trung Tướng Minh là Tổng
Thống và ông Cố Vấn không có trong dinh Gia Long. Do đó,
tôi nhận lệnh của Trung Tướng Minh tiếp
tục cho Trung Đội Thiết Giáp hộ tống
Thiếu Tướng Xuân và Đại Tá Lắm vào nhà
thờ Cha Tam "đón họ" (nguyên văn của
Trung Tướng Minh). Như vậy, tôi được
biết Thiếu Tướng Xuân nhận lệnh trực
tiếp của Trung Tướng Minh, nhưng tôi không
biết là Thiếu Tướng Xuân có nhận lệnh
mật gì của Trung Tướng Minh không. Cũng ngay lúc
đó, tôi được Đại Tá Nguyễn Văn Quan
-bạn thân của Trung Tướng Minh- cho biết, trong
khi tôi xuống dinh Gia Long thì ông Diệm và ông Nhu đã bí
mật vào trong Chợ Lớn, và hiện ở nhà thờ
Cha Tam. Từ nhà thờ, hai ông đã liên lạc điện
thoại với các Tướng Lãnh. Ngay sau đó, Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng quyết định dứt
khoát, ít nhất là số phận của ông Ngô Đình Nhu,
bằng mọi cách phải diệt trừ hậu họa.
Thiếu Tướng Xuân, Đại Tá Quan, Đại Tá
Lắm, Đại Tá Đỗ Mậu, ... đều có
mặt trong cuộc thảo luận để lấy
quyết định có tính cách lịch sử nói trên, cùng
với Trung Tướng Dương Văn Minh, Thiếu
Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Lê
Văn Kim, Phạm Xuân Chiểu. ..v..v.."
"Tôi
cũng được Đại Tá Quan cho biết thêm
rằng, Trung Tướng Minh, người chỉ huy
cuộc đảo chánh, đã nhanh chóng đưa ra
quyết định rất dứt khoát để Hội
Đồng lấy quyết định chung. Các vị
hiện diện lúc đó, không ai góp thêm ý kiến gì. Lúc
đó im lặng được xem là đương nhiên
chấp thuận đề nghị của Trung
Tướng Minh. Thật ra, từ 11 giờ đêm 1/11/1963,
trong lúc tình hình chưa ngã ngủ hẳn, các Tướng
Lãnh đã có bàn bạc riêng với nhau trước về
số phận của ông Ngô Đình Nhu rồi. Riêng
đối với Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì
hầu hết đều tán thành cho Người (chữ
hoa) đi ra ngoại quốc, không thấy vị nào phát
biểu khác hơn. Do đó, khi Thiếu Tướng Xuân
nhận lệnh đi đón Tổng Thống là ông biết
mình sẽ phải làm gì rồi, ít nhất là đối
với ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Còn đối
với Tổng Thống thì lúc bấy giờ tôi hoàn toàn
không biết là Thiếu Tướng Xuân có nhận
được mật lệnh gì thêm từ Trung
Tướng Dương Văn Minh hay không."
"Đoàn
xe khởi hành từ Bộ Tổng Tham Mưu khoảng 6
giờ sáng. Hai xe Quân Cảnh dẫn đầu, xe Jeep
của tôi và Đại Úy Phan Hòa Hiệp, kế đó là xe
Jeep Thiếu Tướng Xuân rồi xe Đại Tá
Lắm, và đoàn xe hộ tống gồm Trung Đội
Thiết Vận Xa 5 chiếc (4 xe đi đầu có bộ
binh tùng thiết, và xe sau cùng là của Trung Đội
Trưởng). Tôi xin nói rõ thêm. Tôi thấy không có dự trù
xe nào chở Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu, nên tôi
có hỏi Thiếu Tướng Xuân trước khi khởi
hành, thì ông nói nhanh và cộc lốc "không cần". Tôi
nghĩ, chắc là ông đã có phương cách rồi nên
không muốn chúng tôi quấy rầy làm mất luồng suy
tính của ông trong lúc ông có mission (nhiệm vụ) quá đặc
biệt, có lẽ đặc biệt hơn bao giờ
hết trong cuộc đời Cảnh Sát Công An của ông.
Trước khi khởi hành, tôi và Đại Úy Hiệp nhìn
thấy Đại Úy Nhung ngồi trên một trong bốn
chiếc thiết vận xa sau xe Jeep chúng tôi. Đại Úy
Hiệp hỏi tôi về sự hiện diện của
vị sĩ quan bộ binh lạ mặt này. Tôi giải
thích sơ qua, đó là Đại Úy Nhung, sĩ quan tùy viên
của Trung Tướng Dương Văn Minh, và có xác
nhận với Đại Úy Hiệp rằng:
"Đại Úy Nhung có hỏi tôi để
được cùng đi với Trung Đội Thiết
Vận Xa. Tôi nghĩ, có lẽ Đại Úy Nhung có nhiệm
vụ gì đó do Trung Tướng Minh đích thân giao cho, nên
tôi không tiện hỏi vì không liên quan gì đến nhiệm
vụ an ninh hộ tống của chúng mình".
"Tôi
không muốn nói rõ với Đại Úy Hiệp, nhưng cá
nhân tôi đã biết là Đại Úy Nhung được
Trung Tướng Minh sai đi theo đoàn xe để thi
hành quyết định của Hội Đồng.
Quyết định liên quan đến ông Cố Vấn Ngô
Đình Nhu. Quyết định này đã được
chuyển thành lệnh và được Trung Tướng
Minh trao cho Đại Úy Nhung thi hành. Vì chắc chắn Trung
Tướng Minh không còn thấy ai hơn người sĩ
quan cận vệ thân tín này để thi hành một công tác
đặc biệt, khó khăn và quan trọng nói trên. Tôi dùng
danh từ "mật" là vì nếu Trung Tướng Minh
có dặn dò điều gì với Đại Úy Nhung thì không
một ai trong Hội Đồng nghe thấy
được. Và nếu có ra lệnh cho Đại Úy Nhung
thi hành quyết định công khai của Hội
Đồng, về một mình ông Cố Vấn Nhu hay cho
cả hai ông, thì cũng không một ai trong Hội
Đồng nghe thấy được. Nhưng tôi
khẳng định là Trung Tướng Minh có sai
Đại Úy Nhung -tức là đã ra lệnh cho Đại
Úy Nhung- và lệnh được đưa ra theo quyết
định của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.
Ít nhất là liên hệ đến ông Cố Vấn Ngô
Đình Nhu. Tôi xin nói rõ lại một lần nữa, là
chỉ liên quan đến ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Vì
nếu Trung Tướng Minh không ra lệnh thì không còn ai
trong Hội Đồng có đủ thẩm quyền
để ra lệnh đặc biệt này? Cũng như
nếu không sai Đại Úy Nhung, thì tại sao Đại Úy
Nhung lại phải nói với tôi cho anh được
ngồi trên chiếc thiết vận xa để
được cùng đi vào Chợ Lớn?"
"Nhưng
tôi cũng xác định là dù có sai Đại Úy Nhung hay ra
lệnh cho Đại Úy Nhung, Trung Tướng Minh cũng
là sai mật hay dặn dò mật mà thôi. Như vậy là
đến đây, chúng ta không còn thắc mắc gì về
người nào đã ra lệnh và lệnh xuất phát
từ đâu. Cá nhân hay tập thể Hội Đồng,
Đại Tá Dương Ngọc Lắm, chắc chắn
phải biết rõ mật lệnh mà Trung Tướng Minh
đã giao cho Thiếu Tướng Xuân. Vì nếu không thì
tại sao đích thân ông đến gặp tôi để
dặn dò tôi trước khi đoàn xe khởi hành: "Nè,
mấy người đừng có nói gì bậy bạ
nghe".
"Tôi
cũng biết chắc chắn ngay từ lúc bàn thảo
kế hoạch sơ khởi trước tháng 11/1963, các
vị Tướng Tá trong nhóm lãnh đạo đảo
chánh đã có dự trù một giải pháp dứt khoát
đối với ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Sự
dự trù đã trở thành quyết định từ sau 1
giờ trưa ngày 1/11/1963. Đó là truy tố ra tòa và xử
ngay trong nước, không cho ra ngoại quốc. Tôi xin
lặp lại, sơ khởi là như vậy. Nhưng theo
lời Đại Tá Nguyễn Văn Quan (khác với
Đại Tá Đặng Văn Quang) nói với tôi, lúc khuya
rạng sáng ngày 2/11/196 khi chưa được tin Tổng
Thống và ông Cố Vấn rời khỏi dinh Gia Long, đa
số trong Hội Đồng không còn ý đưa ông Cố
Vấn Nhu ra tòa nữa, mà nhất quyết phải trừ
hậu họa bằng mọi cách. Rõ ràng là như vậy.
Lúc bấy giờ tình hình chưa ngã ngủ: Dinh Gia Long
chưa chiếm được, lực lượng phòng
vệ Phủ Tổng Thống chưa buông súng đầu
hàng, vì cũng chính ông Cố Vấn được qui trách
cho mọi xáo trộn trong nước, làm mất lòng Dân Quân
Cán Chánh, ... "
"Riêng
đối với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tuy
chưa có quyết định dứt khoát, nhưng qua trao
đổi ngoài hành lang thì đa số các vị trong
Hội Đồng có ý tán thành một giải pháp ôn hòa.
Đó là, để ổng ra ngoại quốc một mình
như một dân thường, không được
hưởng lễ nghi quân cách của một Tổng
Thống. Biện pháp này coi như là một ân huệ
đối với Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tuy
nhiên, theo lời Đại Tá Quan xác nhận lại với
tôi, thì Trung Tướng Minh vẫn còn im lặng, chưa có
ý kiến".
"Khi
được biết Tổng Thống và ông Cố Vấn
đã bí mật rời khỏi dinh Gia Long, thì tình hình
thật sự có thay đổi trong chiều hướng
bất lợi cho hai ông. Khi còn chưa rõ hai ông ở đâu
thì Hội Đồng có phần lo âu, vì dù đảo chánh
có thành công mà hai ông chạy thoát được thì tình hình
chính trị ra sao đây? Chẳng những không có sự
ổn định trong tương lai, mà sẽ có một
sự chia rẽ có thể dẫn tới tranh chấp
quyền lực, nếu không muốn nói là nội chiến
ngay tại miền nam Việt Nam! Và nổ lực chống
cộng sản sẽ bị ảnh hưởng nặng
nề. Nhất là đến giờ này, Tướng
Huỳnh Văn Cao ở Vùng IV Chiến Thuật chưa
chịu tuyên bố chánh thức trên đài phát thanh
đứng về phía Hội Đồng, mặc dầu
được yêu cầu nhiều lần. Vùng IV có 3 Sư
Đoàn Bộ Binh được kềm giữ trong
thế án binh bất động nhờ công của
Thiếu Tá Nhan Minh Trang, Thiếu Tá Huỳnh Văn Tồn,
và Đại Tá Nguyễn Hữu Có".
"Do
đó, từ quyết định ôn hòa trước đó,
đã có một số không ít thành viên trong Hội
Đồng bắt đầu tỏ thái độ cứng
rắn và quyết liệt hơn, nhất là Trung
Tướng Dương Văn Minh, linh hồn của
cuộc đảo chánh. Ông không muốn thấy ngày
11/11/1960 tái diễn (11/11/1960 là ngày Đại Tá Nguyễn Chánh Thi đảo
chánh thất bại phải vượt thoát lưu vong).
Chúng ta phải thấy được trách nhiệm
nặng nề của người chỉ huy cuộc hành
quân đảo chánh lúc bấy giờ, mới biết
được mức độ lo âu nóng ruột của
Trung Tướng Dương Văn Minh như thế nào.
Từ đó mới thấy thái độ của Trung
Tướng Minh qua đề nghị của Trung
Tướng để Hội Đồng lấy quyết định
về trường hợp cá nhân của ông Ngô Đình Nhu,
dứt khoát, không thể do dự hay yếu mềm
được."
"Có
người nói là trước khi đoàn xe khởi hành ,
Trung Tướng Minh đứng trên lầu tòa nhà chánh
Bộ Tổng Tham Mưu, hướng về Thiếu
Tướng Xuân hay Đại Úy Nhung, đưa ra hai ngón
tay (ý nói là cả hai người), nhưng tôi xác nhận là
hoàn toàn không trông thấy. Tôi biết rõ tính trầm tĩnh và
suy tính chính chắn của Trung Tướng Minh, nên tôi
chắc chắn là ông không bao giờ có hành động vào
phút chót quá lộ liễu như vậy. Nếu có ra
lệnh, chắc chắn ông đã có đắn đo suy
tính kỹ càng trước rồi, và ông đã phải
dặn dò ngay Đại Úy Nhung chớ không bao giờ ông
lại ra lệnh để cho người ta thấy
dễ dàng như vậy."
"Tôi
xin mở thêm dấu ngoặc ở đây. Trước khi
khởi hành, tôi có ghé ngang
bộ chỉ huy Thiết Giáp hành quân đặt trên
chiếc bán xích xa đậu ngay cạnh tòa nhà chánh, báo cho
Trung Tá Nguyễn Văn Thiện biết về hướng
đi và nhiệm vụ của tôi. Tôi tuyệt đối
không nói thêm điều nào, vì Trung Tá Thiện không phải là
thành viên của nhóm đảo chánh. Trung Tá Thiện là cán
bộ nòng cốt của đảng Cần Lao, là
người tín cẩn của Tổng Thống và ông Cố
Vấn, nên bị giữ ở phòng họp từ trưa
hôm qua (1/11/1963). Tôi xin với Trung Tướng Minh cho tôi lãnh
ông ra và tôi hoàn toàn trách nhiệm. Được chấp
thuận, và Trung Tá Thiện chỉ huy Thiết Giáp trong
cuộc hành quân này. Sau đảo chánh, ông được
thăng cấp Đại Tá và giữ nguyên chức vụ Chỉ Huy Trưởng
binh chủng Thiết Giáp."
"Đoàn
xe đến nhà thờ Cha Tam, Đại Úy Hiệp giúp tôi
lo bố trí an ninh. Tôi đến gặp Thiếu
Tướng Xuân và Đại Tá Lắm để nhận
lệnh. Cả hai ông, không ai chịu vào nhà thờ
để gặp Tổng Thống và ông Cố Vấn. Tôi
không rõ tại sao, dù đó là nhiệm vụ của hai ông,
và bảo tôi đại diện Hội Đồng vào
mời Tổng Thống và ông Cố Vấn ra xe là
được rồi. Tôi vào nhà thờ qua cổng nhỏ
bên mặt cổng chánh. Nhưng khi bước vào khỏi
cổng khoảng 10 thước, tôi sực nhớ là mình
vào một cơ sở tôn giáo không nên mang theo vũ khí. Tôi
vội trở ra cổng, cởi súng lục trao cho tài
xế của tôi. Lúc này người dân chung quanh thấy
có việc lạ, tò mò
đứng lố nhố đầy cả ngã ba
trước rào sắt của nhà thờ. Binh sĩ cũng
không gắt gao cho lắm, và chắc chắn bây giờ
người dân đã biết được là Tổng
Thống và ông Cố Vấn Nhu đang ở trong nhà thờ
này."
"Tôi
lại bước vào nhà thờ lần thứ hai, không
súng, và vẫn một mình. Tôi không nhìn lại phía sau,
nhưng nghĩ bụng là anh em Thiết Giáp ở ngoài rào
sắt, chắc cũng đã bố trí theo dõi và an ninh cho
tôi, vì biết rằng, tôi vào đây không một tấc
sắt trong tay. Tôi mạnh dạn bước tới.
Rẽ về tay mặt. Đi tới khoảng 20
thước thì thấy từ phía dãy nhà bên hông phải
của nhà thờ có 4 người đi về hướng
tôi. Đó là Tổng Thống Ngô Đình Diệm tay cầm gậy,
ông Cố Vấn Ngô đình Nhu, và 2 người mặc
thường phục. Tôi nghĩ bụng, một trong hai
người mặc thường phục có xách chiếc
cặp da phải là Đỗ Thọ, tùy viên của
Tổng Thống. Người thứ tư tôi không
biết. Mãi sau này tôi mới biết là Đại úy An,
sĩ quan cận vệ của Tổng Thống. Tôi
nghĩ, chắc là Tổng Thống đã được
Hội Đồng báo trước rồi, nên khi nghe
thấy xe tới nhà thờ là Tổng Thống đi ra. Tôi
đứng lại. Chờ. Nhưng vẫn không để
ý xem hai sĩ quan này có võ trang hay không. Và khi Tổng Thống
đến còn cách tôi khoảng 3 thước, tôi
đứng nghiêm lại, đưa tay lên mũ, chào đúng
lễ nghi quân cách, và giữ nguyên tư thế đứng
nghiêm đó, tôi nói: "Thưa Tổng Thống, chúng tôi có
lệnh của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng
đến đây mời Tổng Thống và ông Cố
Vấn về Bộ Tổng Tham Mưu. Có Thiếu Tướng
Mai Hữu Xuân đại diện cho Hội Đồng,
đang đứng trước cửa chờ Tổng
Thống".
"Tổng
Thống đứng lại nghe tôi trình bày và có nói một
câu ngắn mà tôi nghe không rõ. Sau đó, Đại Úy
Đỗ Thọ bảo tôi đi trước, Tổng
Thống sẽ theo sau. Nhưng tôi đứng nép qua một
bên, mời Tổng Thống đi trước ra
hướng cổng nhỏ bên phải. Cả 4
người qua hết rồi, tôi mới lững thững
bước theo sau, cách xa độ 3 thước. Dù sao,
trong cương vị sĩ quan, tôi vẫn bắt buộc
phải giữ lễ độ đối với Tổng
Thống dù là trong hoàn cảnh nào. Và đi sau cũng có
thể là một hành động phản ứng đề
phòng tự nhiên của tôi, chớ hoàn toàn không có ý gì khác. Tôi
đinh ninh rằng, Thiếu Tướng Xuân đã phải
có mặt trước cổng để hướng
dẫn Tổng Thống lên xe về Tổng Tham Mưu, vì
đó là nhiệm vụ của ông. Đến cổng rào,
vì là cổng nhỏ bên hông nên 4 người phải
tuần tự qua cổng. Tổng Thống đi
trước, đến Đại Úy Thọ, rồi
mới đến ông Cố Vấn, và Đại Úy An. Tôi
là người thứ 5 ra khỏi cổng sau cùng".
"Ngay
lúc bấy giờ, tôi mới chợt nhận thấy có
một chiếc Thiết Vận Xa đậu ngay cổng
nhỏ này, cánh cửa sau xe mở rộng, gác nằm
xuống sát lề đường. Tôi thấy Thiếu
Tướng Xuân và Đại Úy Nhung đã có mặt tại
chổ. Không có Đại Tá Lắm. Thiếu Tướng
chỉ có bảo Đại Úy Đỗ Thọ trao cho ông
chiếc cặp da của Tổng Thống mà Đại Úy
Thọ xách. Ông Xuân xách chiếc cặp đi ngay, không nói
thêm một lời nào khác ngoài việc khoát tay ra lệnh cho
Đại Úy Thọ và Đại Úy An đi theo ông".
"Đại
Úy Nhung hướng về phía Tổng Thống và ông Cố
Vấn Nhu, nói như ra lệnh: "Mời hai ông lên".
Vừa nói vừa chỉ vào cửa Thiết Vận Xa đã
mở. Lúc này Tổng Thống và ông Cố Vấn
đứng cách cửa Thiết Vận Xa khoảng 1
thước. Tổng Thống không nói lời nào, chưa có
một phản ứng nào về thái độ kém nhã
nhặn của người sĩ quan mà ông chưa hề
biết mặt. Tổng Thống còn đang tần
ngần, sững sờ, thì ông Cố Vấn Nhu đã lên
tiếng với vẻ mặt bất bình với
người nói trên:
-
Tại sao lại phải lên xe này? Không còn xe nào khác hay sao?
-
-
Không có. Vì lý do an ninh, tình hình đang hỗn loạn. Dân chúng
đang muốn giết hai ông đó. Hai ông phải lên xe này
thôi, để được bảo vệ -
"Đại
Úy Nhung có vẻ bực bội vì câu hỏi với giọng
kẻ cả, nên vừa trả lời vừa đưa
tay ra dấu như có ý đẩy hai người vào Thiết
Vận Xa. Nhìn qua nhìn lại không thấy Thiếu
Tướng Xuân đâu cả. Đại Úy Thọ và
người sĩ quan cận vệ cũng không thấy có
mặt. Tổng Thống hỏi:
-
Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân đâu? Gọi Thiếu
Tướng đến gặp tôi -
-
Thiếu Tướng Xuân đã lên xe đi trước
rồi -
"Đại
Úy Nhung vừa trả lời vừa giục hai ông vào xe. Sau
phút ngập ngừng, hai ông phải bước vào xe".
"Tôi
vẫn còn đứng cách đó vài bước bên cạnh
cổng nhỏ nhà thờ, nhìn thấy cảnh Thiếu
Tướng Xuân đầu trần, không nhìn thẳng
Tổng Thống. Thiếu Tướng đã đưa tay
nhận lấy chiếc cặp da từ tay Đại Úy
Thọ, xong là bước đi luôn về hước xe
của ông, không quên ra lệnh cho Đại Úy Thọ cùng
người sĩ quan cận vệ theo ông, để
mặc cho Đại Úy Nhung đối đáp với
Tổng Thống ra sao tùy ý. Tôi cũng nhìn thấy được
gương mặt thẩn thờ, ngạc nhiên của
Tổng Thống, vẻ bất bình cau có của ông Cố
Vấn Nhu, và thái độ nóng nẩy của Đại Úy
Nhung. Tôi theo dõi được những câu trao đổi
ngắn ngủi nhưng mất bình tỉnh của ông
Cố Vấn với Đại Úy Nhung, cũng như
sự im lặng chịu đựng của Tổng
Thống Ngô Đình Diệm. Tôi còn chứng kiến
được cảnh hai người lặng lẽ
bước vào xe, còn nghe Đại Úy Nhung bảo họ cúi
đầu xuống. Đợi cho hai ông vào xe xong,
Đại Úy Nhung mới bước vào sau cùng. Và cửa xe
từ từ dựng đứng lên, đóng kín lại. ...
"
"Ngay
lúc bấy giờ, tôi mới kịp nhận ra là trong
Thiết Vận Xa không còn một binh sĩ Thiết Giáp nào,
ngoại trừ tài xế và phụ tài xế ngồi phía
trước. Lúc Đại Úy Nhung bước vào xe, thì rõ
ràng tôi chỉ thấy có 3 người trong xe. Đó là
Tổng Thống, ông Cố Vấn, và Đại Úy Nhung. Sau
này hỏi ra tôi mới biết, trưởng xa và xạ
thủ đã được Đại Úy Nhung yêu cầu
tạm đi qua xe khác. Tôi bước xuống lòng
đường, đi bộ lại gặp Thiếu
Tướng Xuân, tôi báo cáo tình hình sau cùng, và đề
nghị với Thiếu Tướng cho đoàn xe khởi
hành về Bộ Tổng Tham Mưu".
"Tôi
bước về xe Jeep củatôi, ra lệnh cho đoàn xe
nổ máy và chuẩn bị lên đường. Thứ
tự các xe như cũ: Xe Jeep của tôi và Đại Úy
Hiệp đi sau 2 xe Quân Cảnh dẫn đường,
kế đó là xe Thiếu Tướng Xuân, xe Đại Tá
Lắm, theo sau là 4 Thiết Vận Xa đi liền nhau,
trong đó, chiếc thứ 3 chở Tổng Thống và ông
Cố Vấn với Đại Úy Nhung, tiếp theo là xe
chở bộ binh tùng thiết (tức là bộ binh tháp tùng
theo Thiết Giáp), sau cùng là xe Trung Đội Trưởng.
Đoàn xe đang đi trên đường Hồng Thập
Tự, qua khỏi nhà bảo sanh Từ Dũ thì phải
dừng lại cổng xe lửa vì sắp có xe lửa
chạy qua. Thời gian đoàn xe dừng lại đây
khoảng hơn mười phút, chợt tôi nghe có mấy
tiếng súng nổ phía sau, vào khoảng giữa đoàn xe.
Tôi cho quay đầu xe Jeep lại, chạy dọc theo
đoàn xe để xem việc gì đã xảy ra.
Đến ngang chiếc Thiết Vận Xa chở Tổng
Thống và ông Cố Vấn, tôi thấy Đại Úy Nhung ngồi trên nóc xe và
hướng về phía chúng tôi, đưa một ngón tay cái
lên làm hiệu (được hiểu là mọi việc
tốt đẹp). Tôi vội hỏi:
-
Tiếng súng nổ ở đâu? -
"Đại
Úy Nhung đưa tay chỉ vào trong xe mà không nói gì. Tôi quay
đầu xe lại, tiếp tục trở lên đầu
đoàn xe. Lúc đó xe lửa cũng vừa chạy qua xong,
cổng chắn ngang đã mở, đoàn xe chúng tôi tiếp
tục chạy hướng về Bộ Tổng Tham
Mưu. Để được biết rõ ràng hơn, tôi
có hỏi Trung Đội Trưởng Thiết Giáp,
việc gì đã xảy ra mà có tiếng súng nổ trên
chiếc Thiết Vận Xa thứ 3. Tôi được
trả lời:
-
Phụ tài xế xe thứ 3 có báo cáo cho tôi biết,
tiếng súng đó do ông Đại Úy bộ binh ngồi
trong xe bắn chết Tổng Thống và ông Cố Vấn
rồi -
"Cả
tôi và Đại Úy Hiệp đều nghe biết sự
việc này qua hệ thống truyền tin Thiết Giáp trên
xe chỉ huy của chúng tôi, nhưng tôi vẫn chưa có báo
cáo gì về Tổng Tham Mưu vào lúc đó, cả với
bộ chỉ huy Thiết Giáp cũng vậy. Riêng tôi, tôi
không biết tại sao cả hai ông đã bị bắn
chết. Vì cho tới giờ này, cũng như các
Tướng Tá thành viên khác của Hội Đồng, tôi
vẫn biết là Hội Đồng dù chưa có quyết
định nào dứt khoát cho trường hợp của
Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng gần như
đã có một sự hiểu ngầm qua trao đổi ý
kiến ngoài hành lang bán chánh thức giữa các thành viên
của Hội Đồng, thì Tổng Thống
được cho xuất ngoại như một
người dân bình thường".
"Gặp
Trung Tướng Minh và các vị Tướng lãnh ngay
lối vào tòa nhà chánh, Thiếu Tướng Xuân báo cáo
ngắn gọn rằng:
-
Mission accomplie - (nhiệm vụ hoàn thành)
"Trầm
ngâm và đăm chiêu, Trung Tướng Minh chưa nói
một lời nào sau báo cáo của Thiếu Tướng Xuân,
thì Thiếu Tướng Khiêm (Trần Thiện Khiêm) ngay sau
đó hỏi nhỏ:
-
Việc gì đã xảy ra? -
-
Hai ổng đã chết rồi -
"Trung
Tướng Minh trả lời ngắn gọn như
vậy. Ngay lúc này, tôi có mặt tại chổ, và chợt
hiểu. Thì ra câu "nhiệm vụ đã hoàn thành"
(mission accomplie) cũng còn có nghĩa là hai ổng đã
chết rồi. Rất là rõ ràng. Trung Tướng Minh nói
xong, tất cả đều không có một câu hỏi nào
khác nữa và cùng nhau trở lên văn phòng, không đi ra
chổ Thiết Vận Xa đậu nữa. Tôi cũng
đi theo".
"
Bước vào đây tôi mới thấy Đại Úy Nhung
đã có mặt ở văn phòng của Tham Mưu
Trưởng rồi, cũng tức là văn phòng mà
TrungTtướng Minh và các Tướng Tá trong Hội
Đồng đang tạm sử dụng. Lúc bấy
giờ, tôi mới biết thêm là Đại Úy Nhung đã lên
đây trước và báo cáo với Trung Tướng Minh
trước khi có người lên đây trình đoàn xe
đón Tổng Thống đã về đến Tổng Tham
Mưu. Đại Úy Nhung chỉ báo cáo riêng cho Trung
Tướng Minh mà thôi, và chắc chắn là kín là mật,
nên các Tướng Tá trong Hội Đồng, kể cả
Thiếu Tướng Khiêm cũng chưa hay biết
được việc gì đã xảy ra. Do đó, khi Trung
Tướng Minh cùng các Tướng Tá trong Hội
Đồng cùng đi xuống sân vận động dự
trù để gặp Tổng Thống và ông Cố Vấn,
thì chưa ai biết được việc gì đã
xảy ra cho Tổng Thống cả. Vừa đến
tầng dưới thì gặp ngay Thiếu Tướng Xuân
từ ngoài sân bước vào, hớn hở báo cáo (công khai)
với Trung Tướng Minh là nhiệm vụ đã hoàn
thành".
"Để
trả lời câu hỏi: "Việc gì đã xảy ra
của Thiếu Tướng Khiêm", Trung Tướng Minh
mới buông gọn một câu: "Hai ổng đã chết
rồi". Tôi đã kín đáo nhận xét thái độ
của các thành viên trong Hội Đồng ngay tại hành
lang tầng dưới của tòa nhà chánh Bộ Tổng
Tham Mưu, ngay sau khi Thiếu Tướng Xuân báo cáo, và sau
đó Trung Tướng Minh trả lời ngắn gọn
cho Thiếu Tướng Khiêm. Thoạt đầu, tất
cả đều có vẻ vui (có lẽ khi biết là đã
đón hay bắt được Tổng Thống và ông
Cố Vấn về đây rồi), vì ai cũng nghĩ
rằng phe đảo chánh ta đã nắm chắc phần
thắng 100% mà không còn sợ hậu họa gì nữa, vì hai
ông không chạy vuột ra khỏi thủ đô để
còn mưu tính chuyện gì khác đâu. Và câu "mission
accomplie" cũng được các Tướng Tá trong
Hội Đồng hiểu là đã bắt được
hai ông về rồi. Đến lúc nghe Trung Tướng Minh
trả lời cho Thiếu Tướng Khiêm là cả hai
đều đã chết hết rồi thì phần đông
đều có vẻ sững sốt, ngạc nhiên,
đến độ không nói được một lời
nào. Vì cứ y theo quyết định, thì cùng lắm
cũng chỉ một mình ông Cố Vấn Nhu mà thôi,
tại sao lại là hai người? Ai cũng nghĩ là
Tổng Thống sẽ được Hội Đồng
cho đi ra ngoại quốc, bây giờ tại sao lại
như vậy? Phải giải thích thế nào đây? Riêng
Trung Tướng Minh rất là trầm tỉnh, không nói
một lời nào với Thiếu Tướng Xuân dù là
một lời khen hỏi ủy lạo, chỉ vài lời
ngắn gọn cho câu hỏi của Thiếu Tướng
Khiêm thôi".
"Sau
đó vài hôm, tôi có dịp gặp lại Thiếu Tá Nhung
(đã được thăng cấp). Để hết
thắc mắc, tôi có gặn hỏi lại sự việc
đã xảy ra như thế nào trong chiếc Thiết
Vận Xa, thì Thiếu Tá Nhung vừa cười vừa
trả lời cho tôi một cách gọn gàng như đã
không có chuyện gì quan trọng xảy ra:
-
Một người cũng vậy, mà hai người
cũng vậy thôi. Hai người cũng khó khăn
lắm, nhưng chắc ăn hơn -
-
Nhưng làm gì có lệnh cho hai người? - Tôi gợi ý
hỏi thêm.
-
Vì ông Diệm chống cự lại sau khi ông Nhu bị tôi
đâm chết, nên tôi phải thanh toán luôn. Có lệnh
cũng được, mà không có lệnh cũng vậy
thôi. Cho nó chắc ăn. Lúc đó đâu có đợi
lệnh được anh -
"Thiếu
Tá Nhung cũng cho tôi biết là anh đã sử dụng dao
găm cá nhân của anh, và sau đó bồi thêm cho mỗi
người một viên đạn ân huệ. Tôi còn nhớ
mãi những câu đối đáp này mồn một, không bao
giờ quên. Nhưng không bao giờ dám hé môi nửa lời
... Bí mật quốc gia chăng? Cũng có thể là như
vậy, vì Hội Đồng họp báo có tiết lộ
điều gì rõ ràng đâu. Cũng không có giải thích
điều gì, và cũng không có trả lời bất
cứ câu hỏi nào có liên quan đến sự việc
này".
"Kết
luận. Tôi xin tạm mượn một câu trích nguyên
văn của cựu Trung Tướng Trần Văn
Đôn trong quyển "Việt Nam Nhân Chứng":
"Tuy lúc đó tôi không nghĩ đến chuyện
giết hai ông Diệm Nhu, sau này nhìn lại các sự kiện,
tôi cho rằng người nào đó ra lệnh giết này,
quả là một người thấy xa. Ông ta không phải
ngu dại gì khi làm chuyện đó". Nhưng theo tôi, xét
cho cùng, người nào đó cho dù có thấy xa, có ngu
dại hay có khôn ngoan gì thì cũng không phải là
người thực sự có quyền chủ động,
và không thể chủ động gì trong sự việc này.
Lý do rất đơn giản và rất dễ hiểu là
lúc nào cũng có một bàn tay lông lá của người phù
thủy với chiếc đũa thần, luôn luôn có
mặt bên cạnh ... đứng trong bóng tối".
Hết
phần trích dẫn.
Trở
lại phòng Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm. Sau
một lúc bàn thảo và viết viết sửa sửa,
một bản Thông Cáo được hoàn chỉnh, liền
đưa sang đài phát thanh công bố cho toàn dân biết là
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đã thành công trong
mục tiêu lật đổ chế độ độc
tài gia đình trị của họ Ngô. Đồng thời
cũng loan tin vắn tắt rằng, Tổng Thống
Diệm và ông Cố Vấn Nhu đã tự sát.
Ngay
trong buổi sáng hôm nay (2/11/1963), Bộ Tổng Tham Mưu
với hằng trăm phóng viên báo chí truyền thanh
truyền hình trong nước ngoài nước, cùng với
những vị hoạt động chính trị, ra vào tòa nhà
chánh rất nhộn nhịp. Những chiếc xe bóng
lộn chạy vào chạy ra như "con thoi" vậy.
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng ra lệnh thả
tất cả tù chính trị dù có án hay chưa có án. Hải
Quân được lệnh ra trại tù Côn Sơn đón các
tù nhân chính trị về thủ đô, dĩ nhiên là không có
tù chính trị cộng sản.
Buổi
chiều (2/11/1963), trong buổi lễ đơn giản
ngay trong phòng Thiếu Tướng Tham Mưu Trưởng
Liên Quân, Trung Tướng Dương Văn Minh, nhân danh
Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng,
thăng cấp Trung Tướng cho các vị: Thiếu
Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Tôn
Thất Đính, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Thiếu
Tướng Mai Hữu Xuân, thăng cấp Thiếu
Tướng cho Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu và
Đại Tá Nguyễn Hữu Có, cùng nhiều vị cấp Tướng cấp Tá
khác.
Trung
Tướng Minh ra lệnh mở cửa phòng họp số
1 và các vị bị giữ từ trưa hôm qua
được ra về, nhưng đa số các vị này
sau đó không còn ngồi lại chiếc ghế tại
nhiệm sở của mình mà phải ngồi những
chiếc ghế mà báo chí thường gọi là
"ngồi chơi xơi nước", hoặc
ngồi ghế ở nhà riêng của quí vị ấy.
Đến
tối, hằng trăm sinh viên học sinh bị bắt
giam trong cuộc tranh đấu cho Phật Giáo, sau khi ra
khỏi nhà tù đã vào tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu,
mang theo đủ thứ thức ăn, nào bánh mì thịt,
bánh tây, bánh ngọt, thịt quay, giò chã, cháo cá cháo thịt,
.... đãi tất cả những ai có mặt tại
đây, từ anh tùy phái, thư ký, đến cận vệ,
tùy viên hay chánh văn phòng, và các vị Tướng Lãnh,
một bữa ăn rất ý nghĩa trong một không khí
thật vui. Phần tôi đã một ngày đêm không chợp
mắt và cũng chẳng có thì giờ ăn uống
mặc dù vợ tôi có cho mang vào. Giờ đây công việc
không đến nỗi vất vã nên thật ngon
miệng.
Trong
khi Hội Đồng Quân Nhân Cách mạng cùng với các nhân
vật chính trị và tôn giáo, thảo luận về thành
phần chánh phủ thay thế chánh phủ sụp
đổ, thì thi hài ông Diệm và ông Nhu được
đưa xuống bệnh xá Tổng Tham Mưu, tọa
lạc bên kia đường gần như đối
diện với tòa nhà chánh Tổng Tham Mưu, để làm
các thủ tục trước khi tẩn liệm và mai táng.
Khai tử của hai ông làm tại quận Tân Bình, tỉnh
Gia Định, ngang cổng số 2 trại Trần
Hưng Đạo, tức Bộ Tổng Tham Mưu.
Nghề nghiệp trên tờ khai tử của ông Diệm
thì tôi không được đọc, nhưng của ông Nhu
ghi là "quản thủ thư viện".
Trung
Tướng Trần Văn Đôn ra lệnh cho Trung Tá
Nguyễn Văn Luông (vừa thăng cấp) tìm mua hai quan
tài tốt nhất, nhưng tìm cả Sài Gòn chỉ có
một cái tốt nhất và cái còn lại được
xem là tốt nhì. Dĩ nhiên cái tốt nhất dành cho cố
Tổng thống Ngô Đình Diệm. Theo yêu cầu của
bà Trần Trung Dung, cháu gái gọi
ông Diệm ông Nhu là cậu ruột, đưa hai quan
tài đến quàn tại bệnh viện Saint Paul trên
đường Phan Thanh Giản. Biết được
tin đó, học sinh sinh viên vì phẫn uất trong tù đày
khi tham gia đấu tranh cho sự công bằng tôn giáo, nên
dự định đánh cắp quan tài của hai ông. Tin
tức này đến tai bà Dung, và Bà vội vã xin Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng chuyển trở vào Bộ
Tổng Tham Mưu. Sau cùng, hai quan tài được an táng
tạm trong khuôn viên trại Trần Hưng Đạo,
cạnh chùa An Quốc. Lễ an táng vị nguyên thủ
quốc gia và vị cố vấn của ông ngay sau khi bị
lật đổ, thật là thê thảm! Phải cử hành
lúc nửa đêm để tránh những đụng
chạm xô xát với học sinh sinh viên. Trong bóng đêm mù
mịt, dưới ánh đèn pha loại nhỏ, ánh sáng
chỉ đủ cho công việc hạ huyệt hai quan tài.
Có mặt lúc đó, gồm vị linh mục người Pháp,
ông bà Trần Trung Dung (một thời là Bộ
Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng dưới quyền
Tổng Thống Diệm), Trung Tá Nguyễn Văn Luông
(trưởng ban mai táng), tôi, và một số quân nhân
của Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu phụ trách an
táng. Xong, một biên bản được thiết
lập, và toàn bộ hồ sơ được ghép thành
một tập dày cùng với hình ảnh từ lúc tẩn
liệm đến khi hoàn thành hai ngôi mộ. Hai ngôi mộ
thật bình thường. Tôi có giữ một hồ sơ
này, nhưng cuối cùng cũng phải thiêu hủy sau ngày
chế độ tự do Việt Nam Cộng Hòa chúng ta sụp
đổ 30.4.1975.
Chánh
phủ Nguyễn Ngọc Thơ được Trung
Tướng Dương Văn Minh, với tư cách
Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng,
chức năng Quốc Trưởng tấn phong, trong khi
nhiều nhân vật từng được ông Diệm và
ông Nhu tin cẩn bị bắt giữ. Ông Nguyễn Ngọc
Thơ, trong ngành hành chánh, là Đốc Phủ Sứ
thời Pháp cai trị, nguyên là Phó Tổng Thống của
Tổng Thống Diệm, nhưng ông được
mời thành lập chánh phủ có lẽ là nhờ vào thành
tích khôi phục nền kinh tế trong những năm
trước đó, với lại ông cũng chưa bị
tai tiếng gì trong dư luận. Tân chánh phủ có màu
sắc dân sự dù là có vài vị Tướng Lãnh nắm
giữ Bộ Quốc Phòng và Bộ An Ninh (tức Bộ
Nội Vụ cũ), nhưng thực chất lãnh
đạo quốc gia vẫn là Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng mà Trung Tướng Minh là Chủ Tịch, hành
sử chức năng Quốc Trưởng.
Những
ngày tiếp theo, các chính khách vẫn ra vào Bộ Tổng Tham
Mưu tuy không nhộp nhịp như những ngày
đầu, nhưng tòa nhà chánh lúc nào cũng có khách dân
sự -nói chung- vào gặp Trung Tướng Minh hoặc Trung
Tướng Khiêm.
Chiều
ngày 3/11/1963, Đại Tá Đặng Văn Quang, sau khi
được điều chỉnh từ Đại Tá
tạm thời thành Đại Tá thực thụ, ông nói
với Trung Tướng Khiêm:
-
Trung Tướng lo thăng cấp cho nhiều người
mà Trung Tướng quên thằng Hoa và nhân viên văn phòng.
Tụi nó thức với Trung Tướng mấy ngày nay, mà
chánh văn phòng của Trung Tướng là cực nhất
đó -
-
Đúng là tôi không nhớ. Chú Hoa, chú và mấy chú trong văn
phòng mỗi chú được thăng 1 cấp. Chú bảo
Phòng Tổng Quản Trị làm xong Nghị Định
đưa vào tôi trình Trung Tướng Minh duyệt ký -
Thế
là tôi được thăng cấp Thiếu Tá từ hôm
đó.
Các
chức vụ quan trọng tại trung ương ngay sau
cuộc đảo chánh thành công, như sau:
-
Trung Tướng Dương Văn Minh, Chủ Tịch
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, tức Quốc
Trưởng.
-
Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tổng
Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu
Trưởng.
-
Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, vẫn Tham Mưu
Trưởng Liên Quân.
-
Trung Tướng Tôn Thất Đính, Tổng Trưởng
Bộ Anh Ninh kiêm Tư Lệnh Quân Đoàn III/Vùng III
Chiến Thuật.
Các
chức vụ quan trọng tại địa phương,
như sau:
-
Trung Tướng Đổ Cao Trí, từ Đà Nẳng lên
Plei Ku nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn II/Vùng II
Chiến Thuật , hoán chuyển với Trung Tướng
Nguyễn Khánh.
-
Trung Tướng Nguyễn Khánh, từ Plei Ku xuống Đà
Nẳng nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn I/Vùg I
Chiến Thuật, hoán chuyển với Trung Tướng
Trí. Trong khi cuộc đảo chánh chưa phân thắng
bại, Thiếu Tướng Khánh chần chừ trong
quyết định ủng hộ bên nào, đến
gần sáng 2/11/1963 mới lên tiếng ủng hộ Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng, và khi thành công ông cũng
được thăng cấp Trung Tướng.
-
Thiếu Tướng Bùi Hữu Nhơn, Tư Lệnh Quân
Đoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật. Đại Tá Nhơn
nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh
từ trung tuần tháng 12/1962 do Thiếu Tướng
Trần Thiện Khiêm bàn giao lại, và chuyển Sư
Đoàn từ Cần Thơ xuống Bạc Liêu.
Đảo chánh thành công, Đại Tá Nhơn
được thăng cấp Thiếu Tướng và
nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV thay Thiếu
Tướng Huỳnh Văn Cao bị cách chức.
Các chức vụ Tư Lệnh
Hải Quân (Đại Tá Hồ Tấn Quyền), Tư
Lệnh Không Quân (Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền),
Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh (Đại Tá Bùi
Đình Đạm), Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh
(Đại Tá Bùi Dzinh), Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy
Dù (Đại Tá Cao Văn Viên), Tư Lệnh Lữ Đoàn
Thủy Quân Lục Chiến (Đại Tá Lê Nguyên Khang),
Chỉ Huy Trưởng Sở Khai Thác Địa Hình
(Đại Tá Lê Quang Tung, bị giết trong ngày đảo
chánh), ..... và Trưởng Phòng Nhì Bộ Tổng Tham Mưu
(Đại Tá Nguyễn Văn Phước), đều
bị thay thế. Riêng Đại Tá Cao Văn Viên, chỉ
vài ngày sau được trở lại chức vụ
Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù.
Ngày
8/11/1963, tôi chuyển lệnh của Trung Tướng
Trần Thiện Khiêm sang Bộ Tư Lệnh Không Quân,
cấp 1 chiếc trực thăng lên Gò Dầu Hạ
(tỉnh Tây Ninh) đón Đại Tá Nguyễn Chánh Thi
về Sài Gòn. Trực thăng về đáp ngay trong khuôn viên
Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi dùng xe của Trung Tướng
Khiêm ra đón Đại Tá Thi và đưa vào phòng Trung
Tướng Khiêm. Hai vị, sau cái bắt tay đã ôm nhau
với nụ cười ròn rã. Nhưng liệu
đằng sau hai nụ cười đó có phải
xuất phát từ tình cảm chân thành hay chỉ là
đầu môi? Bởi vì 3 năm trước đây,
một vị lãnh đạo cuộc đảo chánh
(Đại Tá Thi) và một vị chỉ huy đánh dẹp
cuộc đảo chánh đó (Trung Tướng Khiêm),
giờ đây lại gặp nhau, bắt tay nhau, cùng nhau
cười, nhưng cười vui hay cười
gượng!!!
Chính
trị, theo tôi, là một loại ngôn ngữ và hành
động mà mỗi người hiểu theo cách riêng
của mình tùy theo bối cảnh chung, sự kiện riêng,
thời gian và không gian của nó. Nói như vậy, hành
động như vậy, nhưng không nhất thiết là
như vậy. Phải chăng, Trung Tướng Khiêm và
Đại Tá Thi đang là như vậy?
Cũng
theo tôi, Tổng Thống Ngô Đình Diệm là vị lãnh
đạo có bản lãnh chính trị. Ông là người
thấy trước sự suy yếu trên chính trường
quốc tế của Việt Nam Cộng Hòa nếu như
chấp thuận cho Hoa Kỳ thiết lập các căn
cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, và
như vậy cuộc chiến tranh chống cộng
sản sẽ mất thế chính trị, trong khi thế
chính trị rất là quan trọng nếu không nói là có tính
cách quyết định đối với cuộc
chiến mà Việt Nam Cộng Hòa đang lâm trận (và
điều này đã thật sự xảy ra). Nhưng
rất có thể cũng vì ông có tầm nhìn xa như vậy
mà ông đã bị lật đổ và bị giết
chết? Vì thế mà cái chết của ông vẫn còn là
một nghi vấn về người ra lệnh giết
ông. Nhất thiết người đó phải là
người Việt Nam có thẩm quyền lúc bấy
giờ, nhưng liệu có phải chính người ấy
tự mình quyết định hay người ấy
cũng chỉ là người thi hành lệnh của ai
đó đằng sau nữa? Nghi vấn cao nhất của
tôi về người duy nhất ra lệnh giết ông
Diệm ông Nhu vẫn là cựu Đại Tướng
Dương Văn Minh. Giả thuyết rằng, nếu Đại
Tướng Minh tự nhận ra lệnh cho Đại Úy
Nhung giết ông Diệm, điều đó đúng hay sai
tốt hay xấu còn tùy thuộc nhiều yếu tố mà
những sử gia sẽ dẫn đến sự phán xét
sau này, nhưng nếu Đại Tướng Minh cho là ông
thi hành lệnh của Hoa Kỳ chẳng hạn, chúng ta có
thể phán xét ngay bây giờ chớ không cần chờ
đợi sự phán xét sau này của lịch sử.
Nhưng giờ đây, năm 2003, cựu Đại
Tướng Dương Văn Minh đã từ trần, xin
để ông yên nghỉ!
Mặt
khác, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trong hơn 9
năm cầm quyền, vừa chiến đấu
chống du kích cộng sản, vừa xây dựng
được nền kinh tế non trẻ bước
đầu, và năm 1962 đã cân bằng được
ngân sách quốc gia. Tổng Thống cũng là người
lãnh đạo trong sạch, nhưng ông phải chịu
trách nhiệm về mọi tác hại do anh em ông gây ra cho dân
tộc, bởi vì ông là Tổng Thống, ông đã không
ngăn chận, hoặc ông không đủ can đảm
ngăn chận hành động của anh em ông, hoặc là
ông xem thường thái độ chính trị của
đồng bào dưới quyền ông, nên để
mặc anh em ông thao túng!
Phải
chăng ưu điểm của Tổng Thống Ngô
Đình Diệm dù có nhiều, nhưng không bù
được khuyết điểm của ông, vì
khuyết điểm từ trong trách nhiệm của ông
mới thật là cốt lõi của lãnh đạo?
Khi
thăm đơn vị quân đội, Tổng Thống
Ngô Đình Diệm thường nhắc nhở
người lính "chiến thắng ở mặt
trận nhưng không nên tỏ ra kiêu căng ở hậu
phương, vì như vậy là kiêu binh, mà kiêu binh thì
mất lòng dân, mất lòng dân thì không thắng
được cộng sản trong cuộc chiến tranh
toàn diện này".
Vậy,
có phải là Tổng Thống đã vấp phải
điều mà ông răn dạy quân đội không?
Nhưng
dù sao thì cái chết của Tổng Thống Ngô Đình
Diệm -và chỉ riêng Tổng Thống Ngô Đình Diệm thôi- tôi nghĩ, đã
để lại nhiều luyến tiếc, thương
cảm, thậm chí là ngưỡng mộ, trong các thành
phần xã hội, kể cả quân nhân các cấp trong Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa./.
.
.